Biến đổi khí hậu, suy giảm chất lượng rừng, khai thác tài nguyên và rác thải đang tạo sức ép lên môi trường miền núi.
Tại tọa đàm “Bảo vệ môi trường ở miền núi: Trách nhiệm từ mỗi người dân” do báo Dân trí tổ chức, các chuyên gia nhấn mạnh vai trò trung tâm của người dân trong giải quyết những thách thức này.
Trao đổi tại buổi tọa đàm, PGS.TS Kiều Quốc Lập, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, nhận định địa hình núi cao, độ dốc lớn khiến miền núi, nhất là trung du và miền núi phía Bắc, dễ xảy ra lũ quét, sạt lở đất.
Rừng giống như một tấm áo giáp giúp che chở miền núi
Biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng mưa cực đoan trong thời gian ngắn, trong khi chất lượng rừng suy giảm khiến rủi ro thiên tai thêm nghiêm trọng.
"Rừng giống như một tấm áo giáp giúp che chở, giảm mức độ thiệt hại do lượng mưa cực đoan gây ra", ông Lập nói, đồng thời nhắc đến vụ sạt lở đất đá ở Làng Nủ năm 2024 và lũ quét tại Than Uyên, Lai Châu.

Các vị khách mời trao đổi tại tọa đàm (Ảnh: Mạnh Quân).
Dẫn số liệu nghiên cứu, ông Kiều Quốc Lập cho biết dù độ che phủ rừng trong những năm qua nói chung không giảm nhưng diện tích rừng tự nhiên đã giảm khoảng 14.000ha trong giai đoạn 2020-2024; chất lượng rừng tự nhiên, rừng phòng hộ cũng suy giảm.
Một nghiên cứu được ông Lập dẫn ra còn ghi nhận cường độ lũ quét, sạt lở đất ở miền núi tăng 18,7% trong 5 năm gần đây, đặc biệt tại những nơi diện tích rừng bị thu hẹp.
Không chỉ thiên tai, hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển thủy điện và xây dựng hạ tầng cũng ảnh hưởng đến môi trường.
Ông Lập nhìn nhận những hoạt động này tạo nguồn thu, cung cấp năng lượng, kết nối vùng miền, song phải đi kèm yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái. Khai thác khoáng sản làm biến đổi địa hình, tổn hại cảnh quan nếu phục hồi môi trường không tốt. Các công trình thủy điện vừa và nhỏ trên sông suối có thể thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến sinh kế và sự an toàn của người dân hạ lưu.
Tương tự, xây dựng đường giao thông, công trình thủy lợi tại những nơi dễ xảy ra sạt lở cũng tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại nếu thiếu quy hoạch phù hợp.
Vì vậy, ông Kiều Quốc Lập nhấn mạnh các hoạt động phát triển kinh tế miền núi phải nằm trong quy hoạch tổng thể, đặt mục tiêu bảo vệ môi trường và hệ sinh thái ngay từ đầu.

PGS.TS Kiều Quốc Lập, Trưởng khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên (Ảnh: Mạnh Quân).
Rừng, suối, đất là sinh kế của người dân
Ở góc độ sinh kế, Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, cho rằng những tập quán như du canh du cư, đốt nương làm rẫy, chăn nuôi thả rông và canh tác trên đất dốc có thể gây áp lực lên đất, nước và rừng.
Tuy nhiên, chúng ta không thể coi đó là nguyên nhân chính hay quy hết trách nhiệm cho đồng bào.
"Rừng, suối, đất là sinh kế của người dân, gắn liền với cuộc sống hàng ngày", ông Tùng nói.
Vị chuyên gia phân tích, trước đây người dân canh tác luân phiên, để đất có thời gian phục hồi.
Hiện nay, quỹ đất thu hẹp, áp lực kinh tế tăng khiến chu kỳ canh tác ngắn lại, đất dễ bị xói mòn, suy thoái. Bên cạnh đó, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, túi nilon xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống, trong khi một số dự án phát triển hạ tầng, khai thác khoáng sản cũng khiến người dân phải thay đổi nơi ở và phương thức sinh kế.

Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam (Ảnh: Mạnh Quân).
"Bảo vệ môi trường ở miền núi không thể tách rời sinh kế của bà con" - TS Hoàng Dương Tùng nhấn mạnh và cho rằng mỗi vùng, mỗi dân tộc có điều kiện và phương thức sinh sống khác nhau.
Vì vậy, những giải pháp bảo vệ môi trường cần phù hợp với thực tế địa phương, thay vì áp dụng máy móc một mô hình chung.
Một rào cản khác được vị chuyên gia chỉ ra là nhận thức và khả năng tiếp cận kiến thức bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế. Nhiều hoạt động tuyên truyền vẫn dừng ở khẩu hiệu “hãy bảo vệ môi trường” mà chưa chỉ ra người dân phải làm gì.
Cần xác định từng bản làng đang gặp vấn đề gì, từ rác thải, nguồn nước đến chăn nuôi, rồi hướng dẫn cách thực hiện cụ thể.
Ngoài ra, ông cũng đặc biệt đề cao vai trò của trưởng bản, già làng và hương ước, quy ước cộng đồng.

PGS.TS Kiều Quốc Lập trao đổi tại tọa đàm (Ảnh: Mạnh Quân).
Những yêu cầu bảo vệ môi trường cần được đưa vào hương ước bằng các việc làm gần gũi, dễ thực hiện, mang tính bản địa, đồng thời có sự hướng dẫn, hỗ trợ của chính quyền.
Chuyển tư duy "rác là đồ bỏ đi" sang coi rác là tài nguyên
Đối với vấn đề rác thải, ông Kiều Quốc Lập đề xuất chuyển tư duy từ coi rác là đồ bỏ đi sang xem đó là tài nguyên có thể tận dụng. Để thực hiện, người dân cần được hướng dẫn phân loại rác ngay tại nguồn thành ba nhóm cơ bản gồm rác hữu cơ, rác tái chế và rác nguy hại.
Trong đó, phụ phẩm nông nghiệp, thức ăn thừa có thể xử lý thành phân bón, giảm chi phí sản xuất. Rác tái chế được thu gom, bán hoặc chuyển đến nơi tái chế. Riêng pin, vỏ chai và bao bì thuốc bảo vệ thực vật phải được thu gom, xử lý đúng cách để tránh gây ô nhiễm đất và nguồn nước.
Chuyên gia cho rằng khi hiểu việc phân loại rác giúp nhà cửa sạch hơn, giảm ruồi muỗi, tiết kiệm tiền mua phân bón và thậm chí tạo thêm thu nhập, người dân sẽ chủ động tham gia thay vì chỉ hưởng ứng phong trào. Tuy nhiên, việc thu gom rác tại miền núi khó thu hút doanh nghiệp bởi địa hình chia cắt, dân cư phân tán và chi phí vận chuyển cao.
Ông Lập kiến nghị Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ mặt bằng, kinh phí và cơ chế bù đắp chi phí để doanh nghiệp đầu tư xử lý rác thải, nhất là rác nguy hại. Giải pháp cần dựa trên thế “kiềng ba chân”: Nhà nước hỗ trợ chính sách và nguồn lực; doanh nghiệp đầu tư công nghệ, tổ chức xử lý; người dân đồng thuận, phân loại và thu gom rác từ đầu nguồn.

Tiến sĩ Hoàng Dương Tùng trao đổi tại tọa đàm (Ảnh: Mạnh Quân).
Về bảo vệ rừng, ông Lập đánh giá chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là hướng đi đúng, tạo lợi ích kinh tế trực tiếp cho người giữ rừng. Tuy nhiên, việc chi trả phải công khai, minh bạch, đúng đối tượng, tránh tình trạng người trực tiếp bảo vệ rừng tốt nhưng nhận lợi ích không tương xứng.
Mức chi trả cũng cần phản ánh chất lượng và giá trị sinh thái của từng loại rừng, nhất là rừng tự nhiên, rừng phòng hộ; đồng thời gắn với sinh kế bền vững, tri thức bản địa và cơ hội từ thị trường tín chỉ carbon.
"Người giữ rừng phải sống được và có thu nhập ổn định từ rừng”, ông Lập nhấn mạnh.
Một bất cập khác được chuyên gia chỉ ra là công tác thanh tra, kiểm tra môi trường tại vùng sâu, vùng xa có lúc chưa kịp thời. Nhiều vụ phá rừng, đổ thải chỉ được phát hiện khi hậu quả đã xảy ra. Vì vậy, việc kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, thay vì chỉ tập trung vào từng đợt.
Đáng chú ý, PGS.TS Kiều Quốc Lập cho rằng chính người dân thường là những người đầu tiên phát hiện dấu hiệu chặt phá rừng, khai thác khoáng sản trái phép hoặc xả thải gây ô nhiễm.
Chính quyền cần có cơ chế tiếp nhận, xử lý phản ánh nhanh chóng, đồng thời bảo vệ người tố giác để cộng đồng mạnh dạn lên tiếng trước các hành vi vi phạm. Các chuyên gia cho rằng bảo vệ môi trường miền núi không thể tách khỏi đời sống người dân. Khi việc giữ rừng, bảo vệ nguồn nước và xử lý rác mang lại lợi ích thiết thực, người dân mới có động lực trở thành lực lượng bảo vệ môi trường bền bỉ ngay từ mỗi bản làng.