Bỏ qua điều hướng
•

Cá thể hóa điều trị, nâng cơ hội làm cha mẹ cho người vô sinh, hiếm muộn

Cá thể hóa điều trị, nâng cơ hội làm cha mẹ cho người vô sinh, hiếm muộn
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong bối cảnh tình trạng vô sinh, hiếm muộn vẫn ở mức cao và mức sinh tại Việt Nam thấp hơn mức sinh thay thế, các chuyên gia nhấn mạnh vai trò của cá thể hóa điều trị nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh sản, giúp người bệnh có thêm cơ hội làm cha mẹ. Sau tuổi 35, khả năng sinh sản của phụ nữ thay đ...

Trong 2 ngày 31/10 và 1/11, tại Hà Nội, Hội Phụ sản Việt Nam phối hợp Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Merck Healthcare Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026, với chủ đề “Đồng hành cá thể hóa từng hành trình: Cùng chạm đến ước mơ làm cha mẹ”.

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ vô sinh tích lũy suốt đời tại khu vực Tây Thái Bình Dương ở mức khoảng 23,2%, cao nhất trong các khu vực được thống kê.

Tại Việt Nam, số liệu được công bố tại hội nghị cho thấy mỗi năm có khoảng hơn một triệu cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, với tỷ lệ ước tính 7,7%. Trong đó, vô sinh nguyên phát chiếm 3,9% và vô sinh thứ phát chiếm 3,8%.

gstsbs-nguyen-viet-tien-nguyen-thu-truong-bo-y-te-chu-tich-hoi-phu-san-viet-nam.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, nhận định Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn khi mức sinh ngày càng thấp, trong khi tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn vẫn ở mức cao.

Đáng chú ý, khoảng 50% các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn ở độ tuổi dưới 30. Tình trạng vô sinh thứ phát, tức vô sinh sau một lần có thai, cũng được ghi nhận là vấn đề cần quan tâm.

Trong khi đó, công tác dân số tại Việt Nam tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức, đặc biệt là việc duy trì mức sinh thay thế.

Theo Bộ Y tế, tổng tỷ suất sinh năm 2025 của Việt Nam đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với mức 1,91 con/phụ nữ của năm 2024, nhưng vẫn thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ.

Mức sinh thấp đặt ra những vấn đề đối với cơ cấu dân số, lao động, việc làm, an sinh xã hội và phát triển kinh tế trong dài hạn.

Phát biểu tại hội nghị, Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, nhận định Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn khi mức sinh ngày càng thấp, trong khi tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn vẫn ở mức cao.

“Chúng ta cần tiếp tục thảo luận và tìm kiếm những giải pháp can thiệp, hỗ trợ phù hợp, giúp các cá nhân và cặp vợ chồng hiếm muộn có thêm cơ hội thực hiện ước mơ làm cha mẹ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống”, Giáo sư Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh.

Theo ông, hội nghị là cơ hội để các chuyên gia đến từ nhiều quốc gia chia sẻ những phương pháp và tiến bộ mới trong điều trị vô sinh, hiếm muộn. Những trao đổi khoa học và kinh nghiệm thực tiễn sẽ góp phần hỗ trợ ngành y tế cập nhật kiến thức, nâng cao chất lượng điều trị và mang lại thêm hy vọng cho người bệnh.

gstsbs-nguyen-viet-tien-nguyen-thu-truong-bo-y-te-chu-tich-hoi-phu-san-viet-nam-1.jpg

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, lĩnh vực hỗ trợ sinh sản ngày càng có nhiều phương pháp điều trị, từ thụ tinh trong ống nghiệm, tiêm tinh trùng vào bào tương noãn, trữ đông noãn và phôi đến các giải pháp hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi và tối ưu hóa điều trị. Tuy nhiên, sự đa dạng của các phương pháp cũng đặt ra yêu cầu lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp với đặc điểm và nhu cầu riêng của từng người bệnh.

Đây cũng là nội dung trọng tâm của Hội nghị Fertility acadeMe Conference 2026, với cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó cá thể hóa điều trị được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhằm tối ưu hóa hiệu quả và trải nghiệm của từng hành trình điều trị.

Bà Miranda Hickey, Giám đốc Y khoa ngành hàng Hỗ trợ sinh sản, Merck Healthcare châu Á-Thái Bình Dương cho biết, Merck KGaA, Darmstadt, Đức đã tham gia lĩnh vực điều trị hỗ trợ sinh sản trong nhiều năm. Theo thông tin bà chia sẻ, hơn 6 triệu trẻ em đã ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm có sự đóng góp của các giải pháp từ công ty.

ba-miranda-hickey-giam-doc-y-khoa-nganh-hang-ho-tro-sinh-san-merck-healthcare-chau-a-thai-binh-duong.jpg
Bà Miranda Hickey, Giám đốc Y khoa ngành hàng Hỗ trợ sinh sản, Merck Healthcare châu Á-Thái Bình Dương chia sẻ tại hội nghị.

Bà cho rằng hội nghị là diễn đàn cập nhật thông tin chuyên ngành hỗ trợ sinh sản trong khu vực châu Á, tập trung vào việc kiểm soát hiệu quả các yếu tố then chốt trong công nghệ hỗ trợ sinh sản, hướng tới giúp người bệnh rút ngắn thời gian mong con.

Cũng tại hội nghị, bà Ghislaine Dondellinger, Tổng Giám đốc Merck Healthcare Việt Nam và Thái Lan, nhấn mạnh khoa học và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi góp phần giải quyết những nhu cầu sức khỏe thực tế của người bệnh.

Theo bà, mỗi hành trình điều trị hỗ trợ sinh sản đều có những nhu cầu, kỳ vọng và hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy, thúc đẩy trao đổi chuyên môn, cập nhật bằng chứng khoa học và tăng cường hợp tác giữa các chuyên gia có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị.

Theo Giáo sư Eileen Manalo, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản, hội nghị tập trung vào cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm, kết hợp các yếu tố tâm lý, xã hội và sinh học nhằm tối ưu hóa quá trình chuẩn bị và kết quả điều trị.

giao-su-eileen-manalo-pho-tong-thu-ky-lien-doan-quoc-te-cac-hiep-hoi-ho-tro-sinh-san.jpg
Giáo sư Eileen Manalo, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản chia sẻ tại hội nghị.

Các nội dung chuyên môn được thảo luận bao gồm cá thể hóa phác đồ kích thích buồng trứng theo độ tuổi và đặc điểm người bệnh; nâng cao khả năng làm tổ của phôi và kết quả thai kỳ sớm; cải thiện chẩn đoán, điều trị vô sinh nam; cập nhật những tiến bộ về trí tuệ nhân tạo, bằng chứng từ thực tiễn và các kỹ thuật phòng thí nghiệm trong hỗ trợ sinh sản.

Bên cạnh đó, hội nghị cũng chú trọng các vấn đề bảo tồn khả năng sinh sản, hỗ trợ sức khỏe tinh thần, giảm tình trạng bỏ dở điều trị, đồng thời xem xét những yếu tố xã hội và chính sách ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản của người bệnh.

Trao đổi bên lề hội nghị, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh, dù kỹ thuật điều trị vô sinh tại Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, người trẻ không nên chủ quan, trì hoãn việc sinh con vì cho rằng có thể dựa vào các phương pháp hỗ trợ sinh sản. Chuyên gia đề xuất đẩy mạnh truyền thông, triển khai sàng lọc vô sinh tại các khu công nghiệp và khu dân cư đông đúc, đồng thời nghiên cứu chính sách hỗ trợ chi phí thăm khám, xét nghiệm ban đầu hoặc một phần chi phí trong chu kỳ điều trị đầu tiên, giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn có thêm cơ hội tiếp cận điều trị.

THIÊN LAM

Việt Nam đang đối mặt với thách thức kép khi mức sinh duy trì dưới ngưỡng thay thế còn tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn vẫn ở mức cao. Theo số liệu công bố tại Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026 diễn ra tại Hà Nội, mỗi năm cả nước ghi nhận hơn một triệu cặp vợ chồng hiếm muộn, chiếm tỷ lệ ước tính khoảng 7,7%. Đáng lo ngại, có tới 50% số trường hợp thuộc nhóm tuổi dưới 30, đặt ra gánh nặng lớn cho quy mô dân số và nguồn lực lao động tương lai. Để tối ưu hóa tỷ lệ thành công, các chuyên gia quốc tế thống nhất định hướng lấy người bệnh làm trung tâm thông qua phác đồ cá thể hóa điều trị. Dù các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, tiêm tinh trùng vào bào tương noãn hay trữ đông noãn đã phát triển vượt bậc, việc lựa chọn chiến lược trị liệu sát với từng cơ địa vẫn là yếu tố quyết định. Sự chuyển dịch sang can thiệp chuyên biệt được kỳ vọng sẽ nâng cao cơ hội làm cha mẹ và cải thiện chất lượng dân số dài hạn.
amung