Tạo những mô hình phù hợp
Những ngày qua, nước từ thượng nguồn Mê Công đổ về các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ngày một nhiều. Đầu nguồn sông Tiền, mực nước lên cao, vượt báo động 1. Trên sông Tiền, sông Hậu, con nước mang theo phù sa và nguồn lợi tự nhiên về với đồng bằng.
Tại An Giang, các địa phương như Tân An, Vĩnh Xương, người dân từng bước hình thành thói quen sản xuất theo con nước. Khi nước rút, đồng ruộng được chuẩn bị tốt hơn cho vụ mới, giúp giảm sâu bệnh, tiết giảm chi phí đầu vào và nâng cao năng suất.
Ông Nguyễn Văn Thuận, nông dân xã Tân An cho biết: Điều người dân quan tâm không phải nước lũ cao hay thấp, mà là con nước có về đúng thời điểm và được tổ chức khai thác hợp lý hay không. Từ cách làm ấy, mùa lũ không còn là khoảng thời gian phải tạm dừng sản xuất. Nhiều vùng chủ động bố trí những mô hình phù hợp điều kiện ngập nước theo mùa, như kết hợp nuôi cá, tôm với cấy lúa, sen, cây thủy sinh và các mô hình kết hợp.
Mùa nước nổi cũng là lúc những sản vật đặc trưng của đồng bằng về theo con nước. Từ những cánh đồng ngập nước, bờ kênh, lung bàu đến các tuyến sông, người dân bắt đầu vào mùa khai thác cá đồng, cua, ốc, rau thủy sinh và nhiều sản vật tự nhiên. Với cư dân vùng đầu nguồn, đó không chỉ là món quà của thiên nhiên mà còn là nguồn thu nhập được chờ đợi sau những tháng ngày sản xuất trên đồng ruộng.
Theo nhiều hộ dân, khi nước lên, cá tôm theo dòng vào kênh rạch, đồng ruộng; người dân có thêm nguồn thực phẩm và thu nhập. Ngoài khai thác sản vật tự nhiên, các hợp tác xã và doanh nghiệp đang đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, biến lợi thế nguồn nước thành ngành sản xuất có tổ chức.
Năm 2026, tỉnh An Giang đặt mục tiêu tổng sản lượng thủy sản khoảng 1,66 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng trên 1,2 triệu tấn. Đồng thời thúc đẩy liên kết giữa vùng nuôi, doanh nghiệp chế biến và thị trường, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang chuỗi có khả năng tạo giá trị gia tăng cao hơn.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Ngô Công Thức trong chuyến khảo sát sản xuất nông nghiệp và vùng nuôi cá tra giống tại địa phương, đã yêu cầu các đơn vị quản lý công trình thủy lợi phối hợp địa phương vận hành hệ thống cống hợp lý, chủ động tiêu úng và bảo đảm an toàn vùng sản xuất. Dư địa phát triển của nông nghiệp An Giang không chỉ nằm ở việc mở rộng diện tích mà ở cách tổ chức lại sản xuất, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân phải được kết nối thành chuỗi, từ giống, sản xuất đến chế biến và tiêu thụ.
Đó cũng là điểm khác biệt giữa “sống chung với lũ” theo kinh nghiệm truyền thống và cách tiếp cận hiện nay. Nếu trước đây người dân chủ yếu tận dụng những gì thiên nhiên ban tặng, thì ngày nay mùa nước được đặt trong một chuỗi sản xuất rộng hơn, có sự tham gia của chính quyền, nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Giải pháp dựa vào thiên nhiên
Sống chung với lũ từ lâu đã trở thành một phần trong lịch sử khai phá và sản xuất của Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, cách ứng xử với nước lũ đang thay đổi. Thay vì tìm cách ngăn nước ở mọi nơi, nhiều địa phương xác định nơi nào cần bảo vệ, nơi nào có thể tiếp nhận nước và nơi nào có thể tổ chức sản xuất phù hợp với nhịp nước.
Kết quả từ Dự án Mekong NbS tại An Giang (Giải pháp dựa vào thiên nhiên tại lưu vực sông Mê Công) cho thấy, các mô hình dựa vào lũ (trong đó có lúa, cá, sen và du lịch sinh thái) đã được thí điểm trên hơn 235 ha. Các vùng duy trì ngập lũ theo mùa ghi nhận lượng phù sa bồi tụ khoảng 3-5 tấn/ha, trong khi thu nhập của các tổ, nhóm nông dân tham gia đạt khoảng 50-100 triệu đồng. Những con số này cho thấy nếu được tổ chức phù hợp, nước lũ không chỉ tạo giá trị cho đất mà còn có thể tạo giá trị trực tiếp cho người sản xuất.
Đó cũng chính là tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghị quyết xác định phát triển vùng phải dựa trên việc tôn trọng quy luật tự nhiên, lựa chọn mô hình thích ứng với tự nhiên, sống chung với lũ, mặn, hạn, thiếu nước; đồng thời khai thác lợi thế tự nhiên nhưng phải duy trì, bảo vệ và tôn tạo hệ sinh thái.
Từ tư duy ấy, theo các chuyên gia, nếu được điều tiết hợp lý, lũ mang phù sa, cũng sẽ vệ sinh đồng ruộng, cải thiện độ phì nhiêu của đất, bổ sung nguồn nước và tạo điều kiện phục hồi các hệ sinh thái ngập nước. Mùa nước cũng mở ra những phương thức sản xuất khác mùa khô, giúp đồng bằng không phải phụ thuộc một mô hình canh tác duy nhất suốt cả năm.
Từ góc độ địa phương, ông Vũ Nhật Tân, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phong Mỹ (tỉnh Đồng Tháp) cho rằng, nước mang theo cá tôm, phù sa và cảnh quan. Người dân biến những nguồn lực ấy thành sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và du lịch. Giá trị lớn hơn của các mô hình là góp phần hình thành cách ứng xử phù hợp với tự nhiên. Khi nước về, thay vì chỉ tìm cách ngăn hoặc tháo nước thật nhanh, việc giữ nước trong điều kiện phù hợp giúp đồng ruộng có thêm thời gian tiếp nhận phù sa, tạo môi trường sinh thái và duy trì nguồn lợi thủy sản.
Vì thế, việc khai thác tài nguyên mùa nước nổi cũng cần được tổ chức hợp lý. Các hoạt động đánh bắt phải gắn với bảo vệ nguồn lợi, hạn chế phương thức khai thác tận diệt. “Các hoạt động du lịch cần bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường, không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Đây là điều kiện quan trọng để sinh kế mùa nước có thể duy trì lâu dài”, ông Tân nhấn mạnh ■
Minh Hải - Quốc Trường