Bỏ qua điều hướng

Cho mượn tài khoản ngân hàng rồi bị liên đới vụ lừa đảo: Trách nhiệm chủ sở hữu đến đâu?

Cho mượn tài khoản ngân hàng rồi bị liên đới vụ lừa đảo: Trách nhiệm chủ sở hữu đến đâu?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Bạn tôi cho người quen mượn tài khoản ngân hàng và cung cấp cả thông tin đăng nhập để người này sử dụng tài khoản trong khoảng 2 tháng nhằm nhận và chuyển tiền.

Sau đó, tài khoản của bạn tôi phát sinh nhiều giao dịch chuyển khoản với tổng số tiền khoảng 500 triệu đồng và một phần số tiền này nằm trong đường dây lừa đảo qua mạng.

Trong trường hợp này, tôi muốn hỏi bạn tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự về việc cho người khác mượn tài khoản ngân hàng hay không? Trong tình huống hiện tại, bạn tôi nên xử lý như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?

Luật sư Phan Nhi (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời:

Trong tình huống này, vấn đề quan trọng nhất là xác định người cho mượn tài khoản có biết và có cố ý hỗ trợ cho hành vi lừa đảo hay không.

Việc tài khoản ngân hàng được sử dụng để nhận hoặc chuyển tiền có nguồn gốc từ hành vi lừa đảo không đồng nghĩa với việc người đứng tên tài khoản đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Ảnh 1.

Luật sư Phan Nhi - Đoàn luật sư TP.HCM

Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét người cho mượn tài khoản có biết mục đích sử dụng tài khoản; có tham gia nhận, chuyển, rút tiền; cung cấp mã OTP hoặc thông tin xác thực; có hưởng lợi; hoặc có hành vi nào khác hỗ trợ việc phạm tội hay không.

Nếu bạn của bạn không biết mục đích sử dụng, không biết nguồn tiền là tiền do phạm tội mà có, không tham gia vào các giao dịch và không hưởng lợi từ hoạt động phạm pháp, thì đây là những tình tiết quan trọng để xem xét liệu có đủ căn cứ xác định họ có lỗi cố ý và là đồng phạm hay không.

Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh người cho mượn tài khoản biết tài khoản được sử dụng để nhận, chuyển tiền từ hành vi lừa đảo nhưng vẫn cung cấp tài khoản, thông tin đăng nhập, mã xác thực hoặc hỗ trợ giao dịch, thì tùy vai trò cụ thể, người này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm đối với tội phạm tương ứng.

Cũng cần lưu ý rằng việc “không trực tiếp lừa đảo” chưa đủ để loại trừ trách nhiệm hình sự. Pháp luật còn xử lý người tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức. 

Vì vậy, yếu tố quan trọng vẫn là nhận thức, ý chí và mức độ tham gia thực tế của người cho mượn tài khoản.

Về hướng xử lý, trong trường hợp này, người đứng tên tài khoản nên chấm dứt ngay việc để người khác tiếp tục sử dụng tài khoản, đổi mật khẩu và phương thức xác thực, đồng thời lưu giữ đầy đủ tin nhắn, lịch sử trao đổi, sao kê, lý do cho mượn tài khoản và các tài liệu thể hiện ai là người thực tế thực hiện giao dịch.

Khi làm việc với cơ quan điều tra, cần trình bày trung thực, nhất quán và dựa trên tài liệu có thể kiểm chứng.

Với trường hợp tài khoản đã xuất hiện trong dòng tiền của một vụ án lừa đảo và tổng giao dịch lên tới khoảng 500 triệu đồng, theo luật sư, nên có luật sư hỗ trợ từ sớm để rà soát chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Ngoài ra, có thể bạn nên biết thêm, bản thân hành vi cho người khác mượn tài khoản thanh toán cũng có thể phát sinh trách nhiệm hành chính độc lập.

Cụ thể, theo điểm a khoản 5 Điều 30 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, hành vi cho mượn từ 1 đến dưới 10 tài khoản thanh toán, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng.

Trường hợp liên quan đến từ 10 tài khoản trở lên, theo khoản 6 Điều 30, mức phạt có thể từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng.

Tuy nhiên, việc bị xem xét xử phạt hành chính về hành vi cho mượn tài khoản không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên là đồng phạm trong vụ án lừa đảo. Đây là hai vấn đề pháp lý cần được xem xét độc lập.

Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn

- Ảnh 3.

Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY

Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.

Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ [email protected].

Cho mượn tài khoản ngân hàng rồi bị liên đới vụ lừa đảo: Trách nhiệm chủ sở hữu đến đâu? - Ảnh 4.Cảnh báo giả mạo ứng dụng EVN phát tán mã độc để đọc trộm mã OTP, rút sạch tiền trong tài khoản

Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) thông báo khẩn đến khách hàng về tình trạng mạo danh website và ứng dụng chăm sóc khách hàng (CSKH) EVNSPC nhằm phát tán mã độc, chiếm đoạt tài khoản ngân hàng.

Việc cho người khác mượn tài khoản ngân hàng có thể khiến chủ tài khoản bị liên đới khi tài khoản phát sinh giao dịch liên quan đến một vụ lừa đảo. Tuy nhiên, tài khoản được sử dụng để nhận hoặc chuyển tiền có nguồn gốc từ hành vi phạm tội không đồng nghĩa người đứng tên tài khoản đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự. Vấn đề trọng tâm là cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định người cho mượn tài khoản có biết và cố ý hỗ trợ hành vi lừa đảo hay không. Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Vì vậy, người cho mượn tài khoản có thể được xem xét về nhận thức, mục đích và mức độ tham gia trong toàn bộ quá trình giao dịch. Những nội dung được xem xét gồm việc người này có biết mục đích sử dụng tài khoản, có tham gia nhận, chuyển hoặc rút tiền, cung cấp mã OTP hay thông tin xác thực và có hưởng lợi hay không. Nếu người cho mượn không biết mục đích sử dụng tài khoản, không biết nguồn tiền có được từ hành vi phạm tội, không tham gia giao dịch và không nhận lợi ích, các tình tiết này có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để đánh giá liệu họ có lỗi cố ý và có đủ căn cứ xác định là đồng phạm hay không. Việc đánh giá trách nhiệm phải dựa trên chứng cứ cụ thể thay vì chỉ dựa vào việc tài khoản có xuất hiện trong dòng tiền của vụ án. Ngược lại, nếu có căn cứ cho thấy người cho mượn biết tài khoản được dùng để nhận hoặc chuyển tiền từ hành vi lừa đảo nhưng vẫn cung cấp tài khoản, thông tin đăng nhập hoặc mã xác thực, họ có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. Vai trò cụ thể của người này sẽ được xem xét cùng các hành vi hỗ trợ đã thực hiện. Người không trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo vẫn có thể bị xử lý nếu giữ vai trò tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức. Yếu tố được chú ý là nhận thức, ý chí và mức độ tham gia thực tế của người đứng tên tài khoản. Do đó, việc nói rằng bản thân không trực tiếp lừa đảo không phải lúc nào cũng đủ để loại trừ trách nhiệm hình sự. Cơ quan chức năng sẽ xem xét mối liên hệ giữa người cho mượn tài khoản, người thực hiện giao dịch và dòng tiền phát sinh. Khi phát hiện tài khoản bị sử dụng trong các giao dịch đáng ngờ, người đứng tên nên chấm dứt ngay việc để người khác tiếp tục sử dụng tài khoản. Họ cũng cần đổi mật khẩu, thay đổi phương thức xác thực và lưu giữ tin nhắn, lịch sử trao đổi, sao kê cùng các tài liệu liên quan đến lý do cho mượn tài khoản. Những tài liệu thể hiện ai là người thực tế thực hiện giao dịch có thể hỗ trợ việc làm rõ sự việc. Trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, người liên quan cần trình bày trung thực, nhất quán và dựa trên tài liệu có thể kiểm chứng. Với trường hợp tài khoản đã xuất hiện trong dòng tiền của một vụ án lừa đảo và tổng giao dịch khoảng 500 triệu đồng, luật sư khuyến nghị nên có luật sư hỗ trợ từ sớm. Việc này giúp rà soát chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đứng tên tài khoản. Bên cạnh trách nhiệm hình sự, hành vi cho người khác mượn tài khoản thanh toán có thể phát sinh trách nhiệm hành chính độc lập. Theo điểm a khoản 5 Điều 30 Nghị định 340 năm 2025, hành vi cho mượn từ một đến dưới mười tài khoản thanh toán, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng. Trường hợp liên quan từ mười tài khoản trở lên có thể bị phạt từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng, nhưng xử phạt hành chính về việc cho mượn tài khoản không đồng nghĩa người đó đương nhiên là đồng phạm trong vụ án lừa đảo.