Sau khi Dân trí đăng tải ý kiến của ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đặt vấn đề “một hàng phở làm sao chứng minh được những con gà mua ở đâu mà có hóa đơn, chứng từ?”, nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng tiếp tục phản ánh những vướng mắc tương tự.
Chị Hạnh, chủ một quán cơm văn phòng tại phường Nhiêu Lộc (TPHCM), cho biết khó khăn không chỉ nằm ở việc mua gà cho quán phở. Với các cơ sở kinh doanh ăn uống, nhiều loại nguyên liệu đầu vào cũng rất khó có đầy đủ hóa đơn, chứng từ.
Theo chị, quán ưu tiên sử dụng thực phẩm tươi ngon, trong đó nhiều mặt hàng được lấy trực tiếp từ quê ở miền Tây như trứng gà, cá sông hay gà thả vườn do người nhà gửi lên.
“Những nguyên liệu này thì quán lấy hóa đơn bằng cách nào? Nông dân trồng rau, nuôi cá, nuôi gà rồi bán cho các quán ăn như chúng tôi ở TPHCM có thể xuất hóa đơn hay không? Ngay cả dừa, mỗi lần quán chỉ mua khoảng chục quả, đặt từ miền Tây rồi xe ba gác chở tới giao, vậy chứng từ phải lấy thế nào?”, chị Hạnh đặt vấn đề.
Người dân mua rau củ ở chợ (Ảnh: DT).
Ở góc nhìn khác, chị Hoàng, chủ một quán cà phê có bán thêm đồ ăn, bánh mì tại phường Bình Trưng (TPHCM), cho biết để bảo đảm đầy đủ hóa đơn, chứng từ đầu vào phục vụ kê khai thuế, chị gần như chỉ mua nguyên liệu tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi hoặc các nhà cung cấp có thể xuất hóa đơn.
Toàn bộ hóa đơn mua hàng đều được chị yêu cầu nhân viên lưu giữ, thống kê để theo dõi thu - chi và làm báo cáo đầy đủ.
“Ngay cả rau thơm, hành, tỏi, ớt, nhân viên đề xuất ra chợ mua cho rẻ nhưng tôi vẫn ngại vì khó có hóa đơn, chứng từ. Trong khi đó, ở chợ có rất nhiều người bán rau, trái cây, gà, vịt làm sẵn với số lượng nhỏ. Các quán phở, quán bún hay quán cà phê có bán thêm đồ ăn như chúng tôi thì biết lấy hóa đơn ở đâu?”, chị Hoàng đặt vấn đề.
Theo các hộ kinh doanh, yêu cầu truy xuất nguồn gốc hàng hóa, đặc biệt với thực phẩm, là cần thiết để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, thực tế nguồn cung nguyên liệu cho nhiều quán ăn vẫn đến từ chợ truyền thống, nông hộ, tiểu thương và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ.
Với những mặt hàng như gà, trứng, rau, cá hay gia vị, việc có đầy đủ hóa đơn, chứng từ không phải lúc nào cũng khả thi. Đây trở thành một trong những vướng mắc đáng kể khi hộ kinh doanh phải chứng minh chi phí đầu vào và thực hiện nghĩa vụ thuế.
Gỡ vướng cách nào?
Luật sư Trần Xoa, chuyên gia về thuế, cho rằng nếu áp dụng phương pháp tính thuế trên phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, khó khăn lớn nhất với hộ kinh doanh là chứng minh được các khoản chi thực tế.
Đối với quán ăn, nguyên liệu được mua hằng ngày với số lượng nhỏ và từ nhiều nguồn khác nhau. Chủ quán có thể mua vài con gà, một ít cá, rau, trứng, hành, tỏi, ớt hay rau thơm. Phần lớn những mặt hàng này được lấy từ chợ, nông hộ hoặc người bán nhỏ lẻ nên không phải giao dịch nào cũng có hóa đơn.
“Doanh thu không phải vấn đề, chi phí mới là vấn đề. Có những khoản chủ quán thực tế phải bỏ tiền mua nhưng không có hóa đơn thì không được tính vào chi phí. Với hộ kinh doanh nhỏ, áp dụng cách này sẽ rất khó”, ông Xoa nhận định.
Theo luật sư, nếu yêu cầu hộ kinh doanh phải có hóa đơn cho mọi khoản chi nhưng không đồng thời giải quyết được khả năng cung cấp hóa đơn, chứng từ từ phía người bán thì quy định khó đi vào thực tế. Rau, trứng, gà, cá từ chợ hoặc nông hộ là nguồn cung rất phổ biến đối với các cơ sở ăn uống, trong khi không phải người bán nào cũng có điều kiện xuất hóa đơn.
Vì vậy, ông cho rằng cần xây dựng cơ chế chứng từ phù hợp với các giao dịch nhỏ lẻ, đồng thời không nên áp dụng một phương pháp tính thuế đồng loạt cho mọi hộ kinh doanh.
Một phương án là cho hộ kinh doanh được lựa chọn cách tính thuế phù hợp với quy mô và năng lực quản lý. Những hộ nhỏ, hoạt động đơn giản, khó tổ chức kế toán và tập hợp đầy đủ hóa đơn, chứng từ có thể lựa chọn tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu. Cách này giúp họ không phải chứng minh từng khoản chi phí đầu vào, qua đó giảm thủ tục và chi phí tuân thủ.
Ngược lại, những hộ có quy mô lớn hơn, đủ khả năng tổ chức kế toán và lưu giữ chứng từ có thể lựa chọn phương pháp tính thuế trên phần doanh thu trừ chi phí. Khi đó, các khoản chi thực tế được ghi nhận nhưng hộ kinh doanh phải đáp ứng các yêu cầu tương ứng về sổ sách, hóa đơn và chứng từ.
“Không phải tất cả hộ kinh doanh đều giống nhau. Hộ nào đủ điều kiện thì có thể tính theo doanh thu trừ chi phí, còn hộ nhỏ có thể tính theo tỷ lệ trên doanh thu. Quan trọng là phải cho họ quyền lựa chọn”, ông Xoa nói.
Theo ông, cách tiếp cận này vừa giảm áp lực tuân thủ cho nhóm hộ kinh doanh nhỏ, vừa khuyến khích những hộ có quy mô lớn và năng lực quản trị tốt hơn chuyển sang chế độ kế toán, kê khai đầy đủ và minh bạch.
Đề xuất này cũng có điểm tương đồng với cơ chế hiện hành đối với hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng mỗi năm, khi nhóm này được lựa chọn giữa phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu hoặc trên thu nhập thực tế, tức doanh thu sau khi trừ chi phí.
Trước đó, tại cuộc họp góp ý dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa do Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức, ông Đậu Anh Tuấn đề xuất cho doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng được lựa chọn nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.
Theo ông Tuấn, với doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng, yêu cầu mở sổ sách kế toán, theo dõi nhiều loại sổ và tính thuế trên phần doanh thu sau khi trừ chi phí có thể tạo ra gánh nặng tuân thủ đáng kể. Trong thực tế, việc xác định và chứng minh đầy đủ các khoản chi phí đầu vào không đơn giản, đặc biệt với những cơ sở kinh doanh nhỏ.
Đại diện VCCI cho rằng nếu cho phép nhóm này nộp thuế theo doanh thu, chính sách có thể tác động tới khoảng 5-6 triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, qua đó tạo hiệu ứng xã hội lớn.
Theo ông, khi sửa luật nên ưu tiên những chính sách rõ ràng, dễ thực hiện và có thể áp dụng ngay sau khi quy định có hiệu lực.