Bỏ qua điều hướng
•

Con liên tục tăng độ cận, đổi kính thôi đã đủ?

Con liên tục tăng độ cận, đổi kính thôi đã đủ?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Theo thống kê của Sở Y tế TP.HCM, khoảng 54% học sinh trên địa bàn thành phố mắc tật khúc xạ. Trong bối cảnh tật khúc xạ ngày càng phổ biến ở học sinh, việc theo dõi sự thay đổi độ cận không chỉ dừng ở việc trẻ có cần đổi kính hay không.

Tăng độ cận ở trẻ em: Không chỉ là đổi kính mà còn cần theo dõi sức khỏe mắt - Ảnh 1.

Cùng trẻ vui chơi, vận động và duy trì thói quen sinh hoạt hợp lý là những điều phụ huynh có thể thực hiện để chăm sóc sức khỏe mắt cho trẻ - Ảnh: BVCC

Theo các chuyên gia, phát hiện sớm, đánh giá nguy cơ, lựa chọn phương pháp phù hợp và theo dõi định kỳ là những bước cần được quan tâm trong kiểm soát cận thị ở trẻ.

Tăng độ cận không chỉ là chuyện đổi kính

ThS.BS Nguyễn Huỳnh Yến Nhi - Trưởng khoa Kiểm soát Cận thị, Mắt Sài Gòn Cách Mạng Tháng Tám - cho biết ở trẻ em, cận thị thường xuất hiện và tiến triển trong những năm trẻ còn đang phát triển, do đó nguy cơ cận nặng về sau cũng cao hơn.

Đặc biệt ở độ tuổi đi học, phụ huynh thường quan tâm đến kết quả học tập nhưng đôi khi lại ít chú ý đến những thay đổi nhỏ trong thị lực của con như: nheo mắt khi nhìn bảng, ngồi gần hơn khi xem hoặc đọc, cúi sát khi viết hoặc thường xuyên than nhìn mờ, mỏi mắt. Trong khi trẻ cũng có thể không chủ động nói vì đã quen với tình trạng đó.

“Khi nhãn cầu dài ra nhanh sẽ khiến cho lớp võng mạc bên trong mắt giãn mỏng và dễ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị lực”, bác sĩ Yến Nhi giải thích.

Vì vậy khi phát hiện trẻ tăng độ, cần cho trẻ kiểm tra toàn diện để tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp. Qua đó, bác sĩ có thể đưa ra hướng theo dõi, can thiệp phù hợp nhằm làm chậm tốc độ gia tăng cận thị và bảo vệ sức khỏe mắt về lâu dài, giảm thiểu nguy cơ xảy ra các biến chứng.

Tại các cơ sở chuyên khoa mắt, việc thăm khám kiểm soát cận thị có thể giúp đánh giá nhiều yếu tố thay vì chỉ xác định số kính. Bác sĩ có thể xem xét tuổi, độ cận hiện tại, tốc độ tăng độ, chiều dài trục nhãn cầu, tình trạng giác mạc và bề mặt nhãn cầu, thói quen sinh hoạt cũng như khả năng tuân thủ của trẻ và gia đình.

Tăng độ cận ở trẻ em: Không chỉ là đổi kính mà còn cần theo dõi sức khỏe mắt - Ảnh 2.

ThS.BS Nguyễn Huỳnh Yến Nhi - Trưởng khoa Kiểm soát Cận thị, Mắt Sài Gòn Cách Mạng Tháng Tám - Ảnh: BVCC

Chọn giải pháp phù hợp với từng trẻ

Theo bác sĩ Yến Nhi, kiểm soát cận thị không chỉ là thay một cặp kính khi trẻ nhìn mờ. Đây là quá trình cần được theo dõi và lựa chọn phương pháp phù hợp với từng trường hợp dựa trên đánh giá chuyên môn.

Ngoài ra, việc lựa chọn phương pháp cũng cần đi cùng khả năng phối hợp của trẻ và gia đình. Một phương pháp dù phù hợp về mặt chuyên môn nhưng nếu trẻ khó tuân thủ việc sử dụng, vệ sinh hoặc tái khám thì hiệu quả và độ an toàn của quá trình kiểm soát cũng có thể bị ảnh hưởng.

Với phụ huynh, điều quan trọng là không tự lựa chọn phương pháp chỉ vì thấy phù hợp với một trẻ khác. Sau khi được thăm khám và tư vấn, gia đình có thể cùng bác sĩ cân nhắc phương án phù hợp với tình trạng mắt và khả năng tuân thủ của trẻ.

Tăng độ cận ở trẻ em: Không chỉ là đổi kính mà còn cần theo dõi sức khỏe mắt - Ảnh 3.

Khám mắt định kỳ giúp theo dõi sự thay đổi độ cận và các yếu tố liên quan đến tiến triển cận thị ở trẻ - Ảnh: BVCC

Hiện có một số phương pháp được nghiên cứu và ứng dụng trong kiểm soát cận thị như kính gọng có thiết kế kiểm soát cận thị, kính áp tròng định hình giác mạc ban đêm Ortho-K và thuốc nhỏ mắt atropine nồng độ thấp.

TIN LIÊN QUAN

Trong đó, Ortho-K là một loại kính áp tròng cứng được thiết kế để đeo ban đêm, tạo tác động tạm thời lên hình dạng giác mạc.

Sau khi tháo kính vào buổi sáng, trẻ có thể nhìn rõ mà không cần đeo kính gọng trong thời gian tác dụng của phương pháp.

Ortho-K cũng được nghiên cứu và sử dụng trong kiểm soát tiến triển cận thị. Tuy nhiên, không phải trẻ nào cũng phù hợp với phương pháp này.

Trước khi sử dụng, trẻ cần được kiểm tra tình trạng giác mạc, trong đó có bản đồ giác mạc cùng các yếu tố liên quan khác để bác sĩ đánh giá mức độ phù hợp.

Từ thực tế theo dõi cận thị, việc kiểm soát không chỉ dừng ở một lần đo mắt hay thay kính mà cần có quá trình đánh giá và tái khám phù hợp. Đây cũng là hướng tiếp cận được các bác sĩ tại Bệnh viện Mắt Sài Gòn chú trọng trong quá trình thăm khám, nhằm theo dõi sự thay đổi của mắt và điều chỉnh phương pháp khi cần thiết. ThS.BS Nguyễn Huỳnh Yến Nhi

Tái khám để kiểm soát cận thị

Theo bác sĩ Yến Nhi, phụ huynh không nên chỉ chờ đến khi trẻ nhìn mờ mới đưa đi kiểm tra mắt. Với trẻ đã cận thị, cần theo dõi theo lịch hẹn và lưu ý những thay đổi về thị lực.

Trong trường hợp phương án điều trị ban đầu chưa đáp ứng tốt, phương pháp điều trị sẽ được điều chỉnh để tối ưu hiệu quả kiểm soát cận thị cho trẻ. Do đó việc tuân thủ lịch tái khám khi điều trị kiểm soát cận thị là vô cùng quan trọng. Ngoài ra, phụ huynh cũng cần lưu ý cho trẻ cận thị thăm khám kiểm tra định kỳ dù chưa có dấu hiệu nhìn mờ để phát hiện sớm cận thị tiến triển và can thiệp điều trị kịp thời.

Tăng độ cận ở trẻ em: Không chỉ là đổi kính mà còn cần theo dõi sức khỏe mắt - Ảnh 5.

Tăng độ cận ở trẻ em: Không chỉ là đổi kính mà còn cần theo dõi sức khỏe mắt - Ảnh 6.Khuyến khích trẻ sống năng động, hạn chế mạng xã hội

Cuộc thi vẽ tranh 'Mắt sáng tự do - Em vẽ rõ nét hè' dành cho thiếu nhi từ 4-15 tuổi trên toàn quốc đã chính thức khởi động chiều 17-6 tại Nhà Thiếu nhi TP.HCM.

Nhiều phụ huynh chỉ nhận ra con tăng độ cận khi trẻ nhìn bảng khó khăn, ngồi sát màn hình hoặc liên tục than mỏi mắt sau giờ học. Tuy nhiên, theo các chuyên gia được Tuổi Trẻ dẫn lời, đổi kính chỉ giải quyết nhu cầu nhìn rõ trước mắt, chưa đủ để kiểm soát quá trình cận thị tiến triển. Phát hiện sớm, đánh giá đầy đủ nguy cơ, chọn phương pháp phù hợp và tái khám định kỳ mới là hướng chăm sóc cần được quan tâm. Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Huỳnh Yến Nhi, Trưởng khoa Kiểm soát Cận thị, Mắt Sài Gòn Cách Mạng Tháng Tám, cho biết cận thị ở trẻ thường xuất hiện và tăng dần trong giai đoạn cơ thể còn phát triển. Vì vậy, trẻ bị cận từ sớm có nguy cơ đạt mức cận nặng hơn về sau, nhất là khi gia đình không theo dõi sát những thay đổi nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày. Những biểu hiện thường gặp gồm nheo mắt khi nhìn bảng, ngồi gần lúc xem hoặc đọc, cúi sát khi viết, nhìn mờ và thường xuyên mỏi mắt. Điều đáng chú ý là trẻ có thể không chủ động kể với cha mẹ vì đã quen với hình ảnh nhìn không rõ hoặc chưa nhận biết đó là dấu hiệu bất thường. Khi nhãn cầu dài ra nhanh, lớp võng mạc bên trong mắt bị giãn mỏng, từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện những biến chứng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị lực. Do đó, phụ huynh không nên chờ đến khi trẻ nhìn mờ rõ rệt hoặc học tập sa sút mới đưa con đi kiểm tra chuyên khoa. Khi phát hiện độ cận tăng, trẻ cần được thăm khám toàn diện để bác sĩ tìm hiểu nguyên nhân, đánh giá mức độ nguy cơ và xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp. Tại cơ sở chuyên khoa mắt, việc kiểm tra không chỉ dừng ở xác định số kính mà còn xem xét tuổi, độ cận hiện tại, tốc độ tăng độ và chiều dài trục nhãn cầu. Bác sĩ đồng thời đánh giá tình trạng giác mạc, bề mặt nhãn cầu, thói quen sinh hoạt, khả năng phối hợp của trẻ cùng mức độ tuân thủ từ gia đình. Kiểm soát cận thị không phải hành động thay một cặp kính mới mỗi khi trẻ nhìn mờ, mà là quá trình theo dõi liên tục với phương án được điều chỉnh theo tình trạng từng em. Một giải pháp có thể phù hợp về chuyên môn nhưng vẫn kém hiệu quả nếu trẻ khó sử dụng, gia đình không duy trì vệ sinh hoặc thường xuyên bỏ lịch tái khám. Vì thế, phụ huynh không nên tự chọn phương pháp chỉ vì thấy một trẻ khác áp dụng hiệu quả, mà cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ sau khi con được kiểm tra. Hiện nay, một số phương pháp đã được nghiên cứu và ứng dụng trong kiểm soát cận thị, gồm kính gọng có thiết kế kiểm soát cận thị, kính áp tròng định hình giác mạc ban đêm Ortho-K và thuốc nhỏ mắt atropine nồng độ thấp. Ortho-K là kính áp tròng cứng được thiết kế để đeo vào ban đêm, tạo tác động tạm thời lên hình dạng giác mạc trong thời gian sử dụng. Sau khi tháo kính vào buổi sáng, trẻ có thể nhìn rõ mà không cần đeo kính gọng trong khoảng thời gian phương pháp phát huy tác dụng. Dù vậy, Ortho-K không phải lựa chọn phù hợp cho mọi trẻ, bởi bác sĩ cần kiểm tra giác mạc, thực hiện bản đồ giác mạc và đánh giá thêm nhiều yếu tố liên quan trước khi chỉ định. Việc đeo kính ban đêm cũng đòi hỏi trẻ và gia đình tuân thủ nghiêm hướng dẫn sử dụng, vệ sinh, bảo quản cùng lịch tái khám để bảo đảm hiệu quả và an toàn. Những thông tin này cho thấy phương pháp kiểm soát cận thị cần được cá nhân hóa, thay vì áp dụng máy móc theo kinh nghiệm truyền miệng. Bên cạnh thăm khám, cha mẹ có thể cùng trẻ duy trì thời gian vui chơi ngoài trời, vận động hợp lý và sắp xếp thói quen sinh hoạt giúp mắt giảm áp lực nhìn gần kéo dài. Khám mắt định kỳ giúp ghi nhận sự thay đổi độ cận, theo dõi các yếu tố liên quan đến tiến triển và tạo cơ sở để bác sĩ điều chỉnh phương án khi cần thiết. Thông điệp quan trọng từ các bác sĩ tại Bệnh viện Mắt Sài Gòn là chăm sóc trẻ cận thị cần bắt đầu bằng kiểm tra đúng, tiếp tục bằng theo dõi đều và đồng hành bền bỉ của gia đình.