Những rào cản vô hình
Từng là một chiến sĩ công an, nhưng tai nạn giao thông nghiêm trọng cách đây 21 năm khiến anh Lương Quốc Trung (43 tuổi, phường Đại Mỗ, Hà Nội) phải gắn bó cuộc đời với chiếc xe lăn. Thay vì tìm kiếm cơ hội ở các doanh nghiệp, anh Trung chọn học lớp làm video, tiếp thị liên kết trên các nền tảng TikTok, Shopee do Công ty cổ phần Xã hội Khát Vọng tổ chức và hiện tự kiếm được thu nhập ổn định khoảng 3 triệu đồng mỗi tháng ngay tại nhà.
Lãnh đạo của công ty nơi anh Trung theo học là chị Lương Thị Minh Nguyệt (45 tuổi) cũng có hành trình vượt qua nghịch cảnh tương tự. Liệt hoàn toàn do chấn thương cột sống, chị Nguyệt thấu hiểu sâu sắc những gánh nặng chi phí y tế phát sinh hằng tháng đối với người khuyết tật đặc biệt nặng. Hiện nay, doanh nghiệp đang tạo việc làm cho khoảng 50 lao động là người khuyết tật làm thủ công mỹ nghệ, kết hợp phục hồi chức năng và tham vấn đồng cảnh.
Thực tế cho thấy, dù hệ thống an sinh đã có nhiều bước tiến, khoảng cách để người khuyết tật sống độc lập bằng sức lao động vẫn rất lớn. Chị Nguyệt chia sẻ: Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật thuộc diện hưởng một số chính sách ưu đãi của Nhà nước. Doanh nghiệp thông thường tuyển một vài lao động khuyết tật có thể phải tự bố trí kinh phí cải tạo điều kiện làm việc, như đường dốc, nhà vệ sinh hoặc trang thiết bị phù hợp. Do đó, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ theo người lao động, trong đó có thể hỗ trợ trực tiếp chi phí cải tạo vị trí làm việc, trang thiết bị hỗ trợ hoặc một phần chi phí đóng bảo hiểm xã hội trong giai đoạn đầu, qua đó tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật.
Có thể thấy, bên cạnh sự đồng hành của Nhà nước, vai trò của cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức xã hội chính là mắt xích quyết định để hiện thực hóa các mục tiêu an sinh.
Việc nhân rộng các mô hình doanh nghiệp xã hội do chính người khuyết tật làm chủ không những tạo ra môi trường làm việc phù hợp về mặt hạ tầng, mà còn mang lại sự thấu hiểu, sẻ chia sâu sắc giữa những người đồng cảnh ngộ.
Khi được trao quyền và tạo điều kiện làm việc bình đẳng, người khuyết tật không còn là gánh nặng nhận hỗ trợ thụ động, mà trở thành những chủ thể kinh tế trực tiếp đóng góp giá trị cho xã hội, tự tin khẳng định năng lực bản thân.
Đối với nhóm người khiếm thị, rào cản tiếp cận lại nằm ở phương thức đào tạo nghề và cơ chế quản lý vốn vay. Bà Đinh Việt Anh, Phó Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam đánh giá: Bên cạnh giáo dục đại học, các trung tâm đào tạo nghề thuộc hệ thống Hội vẫn phát huy hiệu quả thiết thực nhất đối với người mù. Từ năm 2026, cơ chế tín dụng giải quyết việc làm thực hiện theo quy định mới, nguồn vốn được quản lý tập trung qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Chúng tôi mong muốn tiếp tục giữ vững cơ chế phối hợp chặt chẽ để Hội phát huy vai trò cầu nối, trực tiếp nắm bắt nhu cầu và đồng hành hội viên sử dụng vốn vay. Đồng thời, các chính sách an sinh cần rà soát để bảo đảm tính thống nhất về tiêu chí, tránh trường hợp người khuyết tật đang hưởng chế độ ưu đãi khác lại bị vướng mắc khi tiếp cận các gói hỗ trợ xã hội.
Thực trạng tại các địa phương vùng sâu, vùng xa cũng cho thấy những khó khăn trong tổ chức thực hiện chính sách. Ông Thái Vĩnh Liệu, Chủ tịch Hội Người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam, bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Quảng Trị cho biết, ở khu vực miền núi, có không ít người chưa nắm rõ chính sách, trong khi cán bộ cấp xã phải phụ trách nhiều nhiệm vụ nên việc rà soát, hướng dẫn đôi khi chưa kịp thời. Về sinh kế, người khuyết tật chưa qua đào tạo gặp nhiều trở ngại khi tìm việc do doanh nghiệp thường ưu tiên lao động đã có kỹ năng.
Từ thực tế nêu trên, ông Liệu đề xuất, đào tạo nghề cho người khuyết tật cần gắn với việc làm cụ thể, đi cùng vốn và đầu ra. Nhà nước nên nghiên cứu cơ chế cho nhóm đối tượng này vay vốn với lãi suất 0%, đồng thời hỗ trợ mặt bằng, kỹ thuật và thị trường cho các doanh nghiệp do người khuyết tật làm chủ.
Đẩy mạnh giải pháp đột phá và đồng hành bền vững
Trước những rào cản thực tế từ đời sống, hệ thống pháp luật đang được điều chỉnh theo hướng chủ động tạo cơ hội gia nhập thị trường lao động. Ngày 16/6/2025, Quốc hội thông qua Luật Việc làm (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026), đặt ra nhiều quy định ưu đãi mang tính bứt phá. Nhằm đưa luật vào cuộc sống, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 338/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều về chính sách hỗ trợ tạo việc làm.
Ông Ngô Xuân Liễu, Giám đốc Trung tâm quốc gia về dịch vụ việc làm, Cục Việc làm phân tích: Luật Việc làm (sửa đổi) năm 2025 mở ra cơ chế ưu tiên cho người khuyết tật tiếp cận nguồn vốn vay lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách xã hội, hỗ trợ đánh giá cấp chứng chỉ kỹ năng nghề và hỗ trợ đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người sử dụng lao động là người khuyết tật. Mở rộng hơn, luật bổ sung quy định ưu tiên vay vốn đối với người lao động đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng.
Ông Liễu cho biết: “Nhằm khắc phục rào cản di chuyển, chúng tôi đang thiết kế các mô-đun chuyên biệt trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia, đẩy mạnh kết nối điện tử và chủ động đưa dịch vụ tư vấn đến tận người dân, giúp người khuyết tật tiếp cận thông tin việc làm thuận lợi nhất. Các trung tâm dịch vụ việc làm tại các địa phương cũng cần chủ động phối hợp gia đình và các tổ chức liên quan để đưa thông tin, tư vấn và cơ hội việc làm đến người khuyết tật, giảm yêu cầu đi lại và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ duy trì việc làm”.
Ở góc độ cơ quan tổ chức thực hiện chính sách an sinh, ông Lê Hùng Sơn, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu thu hẹp khoảng cách giữa văn bản và thực tiễn. Kết quả khảo sát của Cục Thống kê công bố năm 2023 cho thấy người khuyết tật chiếm khoảng 6,11% dân số, với nhu cầu lớn về chăm sóc y tế, việc làm và an sinh.
Tuy nhiên, theo ông Sơn, rào cản về thiết bị và kỹ năng công nghệ vẫn ảnh hưởng đến khả năng sử dụng chính sách của một bộ phận người dân. Vì vậy, chuyển đổi số cần đi cùng hỗ trợ trực tiếp, duy trì tư vấn tại cơ sở để người dân sử dụng chính sách thuận lợi hơn.
Theo ông Sơn, để người yếu thế thật sự tiếp cận được chính sách một cách thuận lợi, bình đẳng và đầy đủ, thời gian tới, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng phù hợp hơn với từng nhóm. Với người khuyết tật, trọng tâm là bảo đảm quyền lợi các bảo hiểm: Y tế, xã hội, thất nghiệp, hỗ trợ thủ tục và tăng khả năng sử dụng dịch vụ, nhất là với người gặp khó khăn về đi lại, thông tin và công nghệ, đồng thời phối hợp hỗ trợ việc làm, thu nhập để họ có điều kiện tham gia an sinh lâu dài. Với người nghèo, cận nghèo, người thu nhập thấp, người dân tộc thiểu số, người ở vùng khó khăn và người cao tuổi chưa có lương hưu, cần phát huy chính sách hỗ trợ mức đóng, tăng tư vấn và kết nối bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với trợ giúp xã hội...
Đích đến của an sinh là để mỗi người yếu thế trong xã hội có thêm khả năng tự chủ, được bảo vệ khi gặp rủi ro và có cơ hội tạo dựng sinh kế phù hợp. Khi chính sách đến được đúng người, đúng nhu cầu và tạo ra khả năng sống độc lập, điểm tựa an sinh sẽ thật sự phát huy giá trị.
HOÀI THU