Mặt bằng lãi suất huy động nhìn chung tiếp tục đi ngang trong tháng 9 trong bối cảnh tín dụng tăng 10,24% so với đầu năm và cao hơn so với tăng trưởng huy động. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn có thể khiến lãi suất huy động khó giảm trong ngắn hạn.
Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về diễn biến thị trường tiền tệ trong tuần từ ngày 7-11/9, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng trong tuần bằng VND đạt xấp xỉ 4.721.552 tỷ đồng, bình quân 944.310 tỷ đồng/ngày, tăng 29.554 tỷ đồng/ngày so với tuần trước đó.
Doanh số giao dịch bằng USD quy đổi ra VND trong tuần đạt khoảng 849.281 tỷ đồng, bình quân 169.856 tỷ đồng/ngày, giảm 43.932 tỷ đồng/ngày so với tuần trước đó.
Theo kỳ hạn, các giao dịch VND chủ yếu tập trung vào kỳ hạn qua đêm (96% tổng doanh số giao dịch VND), kỳ hạn 1 tuần (1% tổng doanh số giao dịch VND).
Đối với giao dịch USD, các kỳ hạn có doanh số lớn nhất là kỳ hạn qua đêm và kỳ hạn 1 tuần với tỷ trọng lần lượt là 87% và 6%.
Về lãi suất đối với các giao dịch bằng VND, lãi suất bình quân có xu hướng giảm so với tuần trước ở tất cả các kỳ hạn. Ví dụ, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm và kỳ hạn 1 tuần giảm lần lượt 2,78%/năm và 2,1%/năm xuống mức 2,52%/năm và 3,37%/năm tương ứng.
Lãi suất bình quân đối với giao dịch bằng USD có xu hướng giảm nhẹ so với tuần trước đó ở các kỳ hạn qua đêm và kỳ hạn 1 tuần. Cụ thể, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm và kỳ hạn 1 tuần đều giảm 0,01 điểm phần trăm, xuống mức 3,61%/năm. Tuy nhiên, lãi suất bình quân kỳ hạn 3 tuần đã tăng 0,08 điểm phần trăm, lên mức 3,79%/năm so với tuần trước.
Trong khi đó, thông tin đáng chú ý nhất trên thị trường tiền tệ là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ngày 16/9 (giờ Mỹ) quyết định tăng 25 điểm cơ bản lãi suất, đưa vùng mục tiêu lãi suất quỹ liên bang từ 3,5-3,75% lên 3,75-4%. Quyết định có hiệu lực từ ngày 17/9.
Theo nhận định của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), mức tăng lãi suất lần này chưa tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá trong thời gian tới.
Trong nước, NHNN hút ròng 30.477 tỷ đồng trên kênh OMO. Theo BVSC, động thái này có thể khiến lãi suất liên ngân hàng tăng trở lại, qua đó góp phần hỗ trợ tỷ giá trong tuần này.
Tuy nhiên, BVSC cho rằng tín dụng tăng 10,24% từ đầu năm, trong khi huy động chỉ tăng 8,77% và cơ cấu vốn vẫn lệch về kỳ hạn ngắn, khiến dư địa để lãi suất huy động kỳ hạn dài giảm thêm không lớn.
Trong khi đó, Công ty Chứng khoán AAS nhận định việc Fed nâng lãi suất có thể làm tăng sức hấp dẫn tương đối của các tài sản định giá bằng USD, qua đó hỗ trợ đồng bạc xanh. Do vàng được định giá bằng USD, đồng USD mạnh lên thường tạo thêm áp lực lên giá vàng.
Bên cạnh đó, vàng là tài sản không đem lại lãi suất định kỳ, vì vậy trong môi trường lãi suất cao, nhà đầu tư có xu hướng ưu tiên chuyển sang nắm giữ các tài sản có lợi suất như tiền gửi hoặc trái phiếu Chính phủ Mỹ, khiến nhu cầu trú ẩn vào vàng sụt giảm.
Theo AAS, việc lãi suất USD duy trì ở mức cao có thể hỗ trợ đồng USD và gây thêm áp lực lên tỷ giá USD/VND. Để giữ ổn định, NHNN cần điều hành linh hoạt thông qua việc điều chỉnh tỷ giá trung tâm hoặc can thiệp thị trường ngoại hối, nhằm tránh gây sốc cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Lãi suất Fed ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam. Doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với áp lực kép: chi phí vay vốn bằng VND tăng cao và gánh nặng nợ vay bằng ngoại tệ nặng nề hơn do tỷ giá biến động. Điều này trực tiếp làm hẹp biên lợi nhuận và gây khó khăn cho các kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn.
LÃI SUẤT HUY ĐỘNG NIÊM YẾT TẠI CÁC NGÂN HÀNG NGÀY 17/9/2026 (%/NĂM) NGÂN HÀNG 3 THÁNG 6 THÁNG 9 THÁNG 12 THÁNG 18 THÁNG AGRIBANK 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8 BIDV 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8 VIETCOMBANK 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8 VIETINBANK 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8 ABBANK 4 6,25 6,25 6,25 5,8 ACB 4,75 7,6 7,7 7,8 BAC A BANK 4,75 7,05 7,05 7,1 6,95 BAOVIETBANK 4,75 6,4 6,4 6,5 6,5 BVBANK 4,75 6,7 6,7 6,9 6,7 EXIMBANK 4,7 5,4 5,4 5,3 5,3 GPBANK 3,7 5,25 5,35 5,55 5,55 HDBANK 4,3 5 4,8 5,3 5,6 KIENLONGBANK 4,2 5,5 5,2 5,5 5,15 LPBANK 4,65 7 6,9 7,2 7,15 MB 4,7 5,8 5,8 6,35 6,35 MBV 4,75 7 7 7 7 MSB 4,75 6,3 6,3 6,8 6,6 NAM A BANK 4,7 6,4 6,6 6,6 6,8 NCB 4,75 6,2 6,2 6,4 6,7 OCB 4,75 6,7 6,7 7 6,9 PGBANK 4,75 6,9 6,9 7 6,8 PVCOMBANK 4,75 5,3 5,3 5,6 6,3 SACOMBANK 4,75 7,2 7,2 7,5 7,5 SAIGONBANK 4,75 6,9 6,7 7,2 7 SCB 1,9 2,9 2,9 3,7 3,9 SEABANK 4,45 4,65 4,85 5 5,45 SHB 4,65 6,2 6,4 6,5 6,6 TECHCOMBANK 4,65 6,55 6,55 6,75 5,85 TPBANK 4,75 6,05 6,05 6,25 6,25 VCBNEO 4,75 7 7 7 7 VIB 4,45 5,7 5,8 7 5,9 VIET A BANK 4,75 6 6 6,1 6,2 VIETBANK 4,6 5,9 6 6,1 6,4 VIKKI BANK 4,7 6 6 6,1 6,1 VPBANK 4,65 6,2 6,2 6,2 6