Bỏ qua điều hướng

Dùng thẻ tín dụng hạn mức 30 triệu đồng, trả gần 100 triệu vẫn gánh nợ gấp đôi

Dùng thẻ tín dụng hạn mức 30 triệu đồng, trả gần 100 triệu vẫn gánh nợ gấp đôi
Nguồn ảnh: VietnamNet

Ngân hàng yêu cầu khách hàng thanh toán hơn 60 triệu đồng từ khoản nợ thẻ tín dụng hạn mức 30 triệu đồng, nhưng bị tòa bác một phần yêu cầu do cách tính lãi quá hạn khiến mức lãi bị đẩy lên khoảng 4,15%/tháng, cao hơn mức thỏa thuận.

Từ hạn mức 30 triệu đến yêu cầu thanh toán hơn 60 triệu đồng

Ngày 18/3/2021, ông Nguyễn Huỳnh P. ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Theo thỏa thuận, ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30 triệu đồng, mục đích sử dụng cho tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn theo thỏa thuận tại thời điểm ký hợp đồng là 2,48%/tháng.

Trong quá trình sử dụng, ông P. đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền hơn 121,1 triệu đồng. Từ khi kích hoạt thẻ, ông P. đã thanh toán cho ngân hàng hơn 97 triệu đồng.

Theo điều khoản sử dụng thẻ, các khoản thanh toán được phân bổ lần lượt vào phí và lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt, giao dịch mua hàng hóa hoặc thanh toán trực tuyến của kỳ trước, sau đó mới đến các khoản phí, lãi và giao dịch phát sinh trong kỳ.

Do ông P. vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển dư nợ sang nợ quá hạn từ ngày 11/9/2023. Tại thời điểm này, ngân hàng xác định dư nợ là hơn 30,2 triệu đồng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

W-tinh lai the tin dung.jpg
Hạn mức thẻ 30 triệu đồng, khách hàng đã thanh toán gần 100 triệu nhưng vẫn còn khoản nợ hơn 56 triệu đồng sau khi ngân hàng tính lãi, phí. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Sau đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết theo hướng buộc ông P. thanh toán ngay một lần toàn bộ số tiền nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 16/9/2024 là hơn 45,75 triệu đồng. Trong số đó gồm hơn 30,2 triệu đồng nợ gốc và hơn 15,5 triệu đồng lãi quá hạn, cùng tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 17/9/2024 cho đến khi hết nợ.

Đến ngày 28/8/2025, ngân hàng thay đổi yêu cầu, đề nghị ông P. trả hơn 30,2 triệu đồng nợ gốc và gần 30 triệu đồng lãi quá hạn, tổng cộng hơn 60,2 triệu đồng, cùng tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

Ngân hàng tính lãi 4,15%/tháng, tòa không chấp nhận

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P. không có lời khai, vắng mặt khi được Tòa án triệu tập làm việc, hòa giải và xét xử.

Bản án dân sự sơ thẩm của TAND Khu vực 1, TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng Thương mại CP S.

Theo đó, ông P. phải trả tổng cộng hơn 56,4 triệu đồng, gồm hơn 29,3 triệu đồng nợ gốc, 727.205 đồng lãi trong hạn, 109.831 đồng phí trễ hạn, hơn 26 triệu đồng lãi trên nợ gốc quá hạn và 164.551 đồng lãi chậm trả. 

Từ ngày 29/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông P. còn phải chịu lãi trên số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ngân hàng đối với số tiền hơn 3,7 triệu đồng.

Không đồng ý với bản án, ngày 25/9/2025, Ngân hàng S. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên phúc thẩm, ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo; ông P. tiếp tục vắng mặt, không rõ lý do.

HĐXX cho rằng việc ngân hàng cộng gộp nợ gốc, lãi trong hạn và phí trễ hạn thành một khoản nợ gốc mới hơn 30,2 triệu đồng để tiếp tục tính lãi quá hạn là không phù hợp với quy định tại Thông tư 39/2016 của Ngân hàng Nhà nước, hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

Do đó, cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu về nợ gốc, xác định số tiền hơn 29,3 triệu đồng tính đến hết ngày 10/9/2023 là có căn cứ.

Tòa phúc thẩm cũng xác định lãi suất trong hạn 2,48%/tháng và lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, tương đương 3,72%/tháng, phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng.

Trong khi đó, ngân hàng yêu cầu tính gần 30 triệu đồng lãi quá hạn trên khoản nợ hơn 30,2 triệu đồng từ ngày 11/9/2023 đến 28/8/2025, tương đương mức lãi khoảng 4,15%/tháng, vượt mức đã thỏa thuận. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm không chấp nhận phần yêu cầu này được xác định là có cơ sở.

Từ những căn cứ trên, Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng S., giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Như vậy, ông P. có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng tổng cộng hơn 56,4 triệu đồng và tiếp tục chịu lãi trên số tiền còn phải thi hành từ ngày 29/8/2025 cho đến khi trả xong. Ngân hàng không được chấp nhận yêu cầu đối với hơn 3,7 triệu đồng.

(Bài viết dựa trên Bản án số 714/2026/DS-PT ngày 14/4/2026 của TAND TPHCM)

Vụ tranh chấp giữa ông Nguyễn Huỳnh P. và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. cho thấy dư nợ thẻ tín dụng có thể tăng mạnh khi tiền thanh toán được ưu tiên phân bổ vào phí, lãi và các giao dịch của kỳ trước. Với hạn mức 30 triệu đồng và lãi suất trong hạn 2,48%/tháng, ông P. đã giao dịch hơn 121,1 triệu đồng, thanh toán hơn 97 triệu đồng nhưng vẫn bị xác định còn dư nợ hơn 30,2 triệu đồng khi khoản vay chuyển quá hạn ngày 11/9/2023. Ngân hàng ban đầu yêu cầu ông P. trả hơn 45,75 triệu đồng, gồm hơn 30,2 triệu đồng tiền gốc và hơn 15,5 triệu đồng lãi quá hạn tính đến ngày 16/9/2024. Đến ngày 28/8/2025, yêu cầu được nâng lên hơn 60,2 triệu đồng, trong đó tiền lãi quá hạn gần 30 triệu đồng, do ngân hàng áp dụng mức lãi 4,15%/tháng trên khoản nợ được cộng gộp từ gốc, lãi trong hạn và phí trễ hạn. TAND Khu vực 1, TPHCM chỉ chấp nhận một phần yêu cầu, buộc ông P. thanh toán hơn 56,4 triệu đồng, gồm hơn 29,3 triệu đồng nợ gốc, 727.205 đồng lãi trong hạn, 109.831 đồng phí trễ hạn, hơn 26 triệu đồng lãi trên nợ gốc quá hạn và 164.551 đồng lãi chậm trả. Tòa không chấp nhận hơn 3,7 triệu đồng còn lại, đồng thời xác định từ ngày 29/8/2025, người vay tiếp tục chịu lãi theo mức đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành án xong. Sau khi ngân hàng kháng cáo toàn bộ bản án ngày 25/9/2025, hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định việc biến cả lãi và phí thành nợ gốc mới để tiếp tục tính lãi quá hạn là không phù hợp với Thông tư 39/2016 của Ngân hàng Nhà nước và Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP. Phán quyết cho thấy giới hạn tín dụng không phải trần nghĩa vụ thanh toán, nhưng ngân hàng cũng không thể áp dụng phương pháp cộng dồn khiến lãi thực tế vượt quá mức thỏa thuận hợp pháp.