Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến 2045 của Chính phủ được công bố ngày 21/9. Đây được xem như "bản đồ phát triển" của giáo dục đại học Việt Nam, đồng thời là căn cứ để sắp xếp mạng lưới, giao nhiệm vụ và đầu tư nguồn lực. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ phát triển chủ yếu theo quy mô sang theo chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết mục tiêu lớn nhất là đưa giáo dục đại học trở thành "hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia", giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.
Do đó, các chỉ tiêu liên quan trực tiếp kết quả đào tạo, nghiên cứu, tác động xã hội của các cơ sở giáo dục đại học vào năm 2035.
Cụ thể, 90% số người học sau khi tốt nghiệp có việc làm phù hợp với chuyên ngành được đào tạo, trong vòng một năm. Hiện, con số này do các trường tự khảo sát, hầu hết công bố đạt khoảng 80-100%. Tuy nhiên, số lượng sinh viên trả lời hay tỷ lệ có việc làm phù hợp với ngành học không được đề cập.
Hồi tháng 4, lãnh đạo Bộ thừa nhận tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp do các trường thống kê chưa thật sự đầy đủ và không phản ánh hết vấn đề. Vì thế, ngành giáo dục sẽ phối hợp Bộ Công an đồng bộ dữ liệu, ghi nhận thông tin từ lúc sinh viên nhập học đến khi tốt nghiệp, đóng bảo hiểm xã hội để có dữ liệu chi tiết.
Bộ nhìn nhận chiến lược mới đòi hỏi hệ thống giáo dục đại học phải "thực học, thực nghiệp, thực chất": học thật, thi thật, đánh giá đúng năng lực và tốt nghiệp với năng lực làm việc thực sự. Dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm, thu nhập và phản hồi của doanh nghiệp sẽ trở thành căn cứ để mở ngành, điều chỉnh chương trình và xác định quy mô đào tạo. Tuyển sinh sẽ chuyển từ mục tiêu "tuyển đủ" sang tuyển đúng, tìm người học phù hợp.
Ngoài ra, Chính phủ muốn mở rộng tỷ lệ tiếp cận giáo dục trình độ cao, tăng mạnh số người học các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Đến năm 2035, khoảng 45% dân số trong độ tuổi 18 - 22 học đại học (hiện khoảng 36%), ở bậc sau đại học đạt 15%. Số học viên khối ngành STEM chiếm 40% quy mô đào tạo.
Các mục tiêu khác là: tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 50% (hiện là 36%); tỷ trọng nguồn thu từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức của các trường đạt 15%; thu hút 5.000 nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài đến giảng dạy, nghiên cứu.
Cùng đó, Chính phủ lựa chọn khoảng 30 trường đại học trọng điểm để tập trung đầu tư nguồn lực. 3-5 trường trong số này được định hướng thành đại học tinh hoa, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của giáo dục đại học Việt Nam, với 10 trường thuộc top 200 châu Á, hai trường vào top 100 thế giới theo lĩnh vực đào tạo.
Năm học 2025-2026, cả nước có gần 2,6 triệu sinh viên đại học và 144.000 người học sau đại học.
Sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân, tháng 3/2026. Ảnh: Hoàng Giang
Lệ Nguyễn