ĐBQH: Giá điện không thể là cơ chế chuyển mọi rủi ro, chi phí sang người sử dụng
Nguồn ảnh: VTC News
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, giá điện hợp lý không thể trở thành cơ chế chuyển mọi rủi ro và chi phí của hoạt động đầu tư, kinh doanh sang người sử dụng điện.
Theo đề xuất của Chính phủ, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định về việc áp dụng giá bán lẻ điện giờ cao điểm, thấp điểm và bình thường với khách hàng sinh hoạt khi điều kiện kỹ thuật cho phép. Dự thảo cũng cụ thể hóa định hướng tại Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị theo hướng xây dựng “lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện”.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga. (Ảnh: Media Quốc hội)
Đại biểu Nga cho rằng những định hướng này có thể góp phần sử dụng điện hiệu quả và phản ánh đúng hơn chi phí cung cấp điện.
“Nhưng tác động của chúng không giống nhau đối với mọi hộ gia đình. Có những hộ có thể chủ động chuyển thời gian sử dụng điện; cũng có những hộ không có khả năng đó vì điều kiện làm việc, sinh hoạt hoặc nhu cầu chăm sóc người bệnh”, bà Nga nêu thực tế.
Vì vậy, đại biểu đề nghị đánh giá tác động tổng hợp của các cơ chế giá dự kiến, thay vì xem xét riêng từng cơ chế.
Hồ sơ dự án Luật cần đưa ra một số kịch bản cụ thể, làm rõ hóa đơn điện của từng nhóm hộ và chi phí điện của các nhóm doanh nghiệp có thể thay đổi như thế nào.
“Khi quy định chi tiết lộ trình áp dụng giá điện theo giờ, Chính phủ cần bảo đảm điều kiện đo đếm chính xác, khả năng để người sử dụng điện kiểm tra số liệu và hóa đơn, việc thông tin đầy đủ trước khi áp dụng, cũng như phương án đối với nhóm hộ dễ bị ảnh hưởng”, bà Nguyễn Thị Việt Nga góp ý.
Đối với lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện, đại biểu đề nghị đánh giá rõ những nhóm có thể chịu tác động tăng chi phí, đồng thời có giải pháp an sinh phù hợp.
Theo bà Nga, giá điện hợp lý không đồng nghĩa với việc giữ giá thấp bằng mọi cách, bởi thiếu nguồn lực đầu tư cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến an ninh cung cấp điện.
“Tuy nhiên, giá điện hợp lý cũng không thể trở thành cơ chế chuyển mọi rủi ro và chi phí của hoạt động đầu tư, kinh doanh sang người sử dụng điện. Điều chúng ta cần là một khuôn khổ minh bạch, trong đó nhà đầu tư có cơ hội thu hồi chi phí chính đáng, đơn vị điện lực có động lực nâng cao hiệu quả, còn người dân biết mình đang trả tiền cho những khoản chi phí nào và được bảo vệ trước các khoản chi không hợp lý”, bà Nga nhấn mạnh.
Cùng thảo luận, đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn Cần Thơ) cho rằng dù cơ chế mua bán điện trực tiếp và thị trường bán buôn điện cạnh tranh đã có bước tiến nhưng khâu xác định giá điện, đàm phán hợp đồng mua bán điện vẫn là điểm nghẽn.
Đại biểu Tô Ái Vang. (Ảnh: Media Quốc hội)
Đại biểu dẫn chứng một số dự án nguồn điện lớn như điện gió ngoài khơi chậm tiến độ do thiếu khung pháp lý về phân chia rủi ro dài hạn. Trong khi đó, mô hình mua bán điện hiện nay phụ thuộc lớn vào Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trong khâu mua và phân phối điện.
Bà Vang cho rằng khi chi phí nhiên liệu đầu vào tăng, EVN phải gánh rủi ro tài chính, qua đó có thể ảnh hưởng đến an ninh tài chính ngành điện và khả năng thanh toán cho các nhà đầu tư tư nhân.
Đại biểu cũng đề cập thực tế giá bán lẻ điện sinh hoạt còn mang tính trợ giá và chịu sự điều tiết hành chính cao nhằm bảo vệ đời sống người dân. Tuy nhiên, theo bà, điều này có thể làm triệt tiêu động lực tham gia của các nguồn điện sạch có giá cao và dẫn tới nguy cơ thiếu điện cục bộ vào mùa cao điểm.
Từ đó, đại biểu Tô Ái Vang đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định giao Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù, cho phép cam kết tỷ lệ sản lượng điện bao tiêu tối thiểu dài hạn ở mức phù hợp, đồng thời có cơ chế chuyển biến động giá nhiên liệu đầu vào vào giá bán điện trong các hợp đồng mua bán điện đã ký kết.
Theo đại biểu, việc luật hóa cơ chế này sẽ tạo hành lang minh bạch, tránh áp dụng cơ chế riêng cho từng dự án, qua đó hạn chế tiêu cực và rủi ro pháp lý đối với cơ quan quản lý.
Tại hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách chiều 28/9, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, đoàn Hải Phòng, nêu nhiều băn khoăn về cách tính giá điện trong dự án sửa đổi Luật Điện lực. Chính phủ đề xuất bổ sung giá bán lẻ điện theo khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường cho khách hàng sinh hoạt, khi điều kiện kỹ thuật cho phép. Dự thảo cũng cụ thể hóa định hướng tại Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị, hướng tới lộ trình xóa bỏ bù chéo giá điện.
Theo bà Nga, hai định hướng này có thể khuyến khích sử dụng điện hiệu quả hơn và phản ánh sát hơn chi phí cung cấp điện. Tuy nhiên, tác động sẽ khác nhau giữa các hộ, bởi một số gia đình có thể đổi giờ dùng điện, còn những gia đình khác không có lựa chọn tương tự. Lịch làm việc, sinh hoạt hoặc nhu cầu chăm sóc người bệnh có thể khiến nhiều người buộc phải sử dụng điện vào thời điểm nhất định.
Vì thế, đại biểu đề nghị đánh giá tổng thể các cơ chế giá được đề xuất, thay vì xem xét từng chính sách một cách tách rời. Hồ sơ dự án luật, theo bà, cần nêu những kịch bản cụ thể, cho thấy hóa đơn của từng nhóm hộ và chi phí điện của các nhóm doanh nghiệp có thể biến động ra sao. Cách đánh giá này sẽ giúp cơ quan lập pháp nhìn rõ hơn ai có thể được lợi, ai có nguy cơ phải trả thêm khi chính sách thay đổi.
Khi xây dựng chi tiết lộ trình tính giá điện theo giờ, Chính phủ cần bảo đảm hệ thống đo đếm chính xác và người dân có thể kiểm tra số liệu, hóa đơn. Bà Nga cũng lưu ý cần thông tin đầy đủ trước khi áp dụng, đồng thời chuẩn bị phương án phù hợp cho những nhóm hộ dễ bị ảnh hưởng. Với kế hoạch xóa bỏ bù chéo, đại biểu đề nghị xác định rõ nhóm có thể chịu chi phí tăng và đi kèm giải pháp an sinh.
Giá điện hợp lý, theo bà Nga, không có nghĩa là phải giữ giá thấp bằng mọi cách, bởi thiếu nguồn lực đầu tư có thể ảnh hưởng an ninh cung cấp điện. Nhưng bà cảnh báo cơ chế giá cũng không nên chuyển mọi rủi ro và chi phí trong hoạt động đầu tư, kinh doanh sang người sử dụng. Khuôn khổ minh bạch cần giúp nhà đầu tư thu hồi chi phí chính đáng, khuyến khích đơn vị điện lực hoạt động hiệu quả và cho người dân biết rõ mình đang trả tiền cho khoản nào.
Cùng thảo luận, đại biểu Tô Ái Vang, đoàn Cần Thơ, nhận định cơ chế mua bán điện trực tiếp và thị trường bán buôn điện cạnh tranh đã có bước tiến. Dù vậy, bà cho rằng việc xác định giá điện và đàm phán hợp đồng mua bán điện vẫn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Một số dự án nguồn điện lớn, trong đó có điện gió ngoài khơi, chậm tiến độ do chưa có khung pháp lý phân chia rủi ro dài hạn.
Bà Vang cũng nêu mô hình hiện nay phụ thuộc đáng kể vào Tập đoàn Điện lực Việt Nam, gọi tắt là EVN, trong khâu mua và phân phối điện. Khi nhiên liệu đầu vào tăng giá, EVN phải gánh thêm rủi ro tài chính, điều có thể tác động đến an ninh tài chính ngành điện. Áp lực này cũng có thể ảnh hưởng khả năng thanh toán cho các nhà đầu tư tư nhân, theo phân tích của đại biểu tại hội nghị.
Đại biểu cho biết giá bán lẻ điện sinh hoạt hiện còn mang tính trợ giá và chịu sự điều tiết hành chính cao nhằm bảo vệ đời sống người dân. Tuy nhiên, bà cảnh báo cách làm này có thể làm giảm động lực tham gia của các nguồn điện sạch vốn có giá cao hơn. Hệ quả được bà lưu ý là nguy cơ thiếu điện cục bộ vào mùa cao điểm, khi nhu cầu tăng mà nguồn cung không đáp ứng đủ.
Từ những vướng mắc đó, bà Vang đề nghị nghiên cứu giao Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù về tỷ lệ sản lượng điện bao tiêu tối thiểu dài hạn ở mức phù hợp. Bà cũng kiến nghị cho phép phản ánh biến động giá nhiên liệu đầu vào vào giá bán điện trong những hợp đồng mua bán điện đã ký. Theo đại biểu, luật hóa cơ chế này có thể tạo hành lang minh bạch, hạn chế việc xử lý riêng từng dự án, giảm tiêu cực và rủi ro pháp lý cho cơ quan quản lý, theo VTC News.