Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và mức độ chế biến của một số khoáng sản chiến lược, quan trọng có nguồn gốc khai thác trong nước được phép xuất khẩu đang được Bộ Tư pháp thẩm định.
Đất hiếm áp dụng cơ chế đặc thù
Bộ Công Thương (cơ quan soạn thảo) đề xuất danh mục và mức độ chế biến đối với 17 khoáng sản được phép xuất khẩu gồm: Đất hiếm, thiếc, wolfram, antimon, đồng, bô-xít, titan, liti, sắt, mangan, molybden, niken, coban, cromit, than antraxit, apatit, graphit.
Trong đó, đất hiếm là trường hợp áp dụng cơ chế đặc thù. Khoản 4 Điều 2 dự thảo quy định sản phẩm đất hiếm chỉ được xuất khẩu khi thuộc danh mục này và đáp ứng tiêu chuẩn chế biến sâu theo quy định của Bộ Công Thương.
Mỏ đất hiếm ở xã Yên Phú, huyện Văn Yên, Yên Bái cũ, nay thuộc tỉnh Lào Cai (Ảnh: Trần Thanh).
Bộ Công Thương khẳng định, đối với đất hiếm không áp dụng nguyên tắc chung, theo đó mọi sản phẩm được chế biến tiếp sau mốc đều mặc nhiên đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Dự thảo nêu rõ, đất hiếm được phép xuất khẩu nhưng phải chế biến sâu đến một trong các sản phẩm sau: oxide riêng rẽ của các nguyên tố đất hiếm; kim loại đất hiếm; hợp kim đất hiếm; bột hợp kim đất hiếm; nam châm vĩnh cửu đất hiếm.
Ngoài ra, thiếc được phép xuất khẩu nhưng phải qua luyện, tinh luyện tạo thiếc kim loại, kể cả dạng thỏi. Wolfram đã qua hóa luyện, tinh sạch, chuyển hóa tạo amoni paratungstat (APT) hoặc wolfram oxide.
Đồng cũng phải qua luyện, tinh luyện tạo đồng tinh luyện dạng cathode hoặc đồng tấm. Bô-xít đã qua chế biến hóa học tạo alumin (nhôm oxide, Al₂O₃); sắt đã qua hoàn nguyên các oxide của sắt tạo sắt hoàn nguyên trực tiếp (DRI/HBI) hoặc đã qua nấu luyện, khử các oxide của sắt tạo gang... mới được phép xuất khẩu.
Vì sao chỉ đề xuất 17 khoáng sản được xuất khẩu?
Quyết định số 3792/2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng của Việt Nam giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045, gồm 19 loại khoáng sản: Đất hiếm; urani, thori; vàng; thiếc; wolfram; antimon; đồng; bô-xít; titan; liti; sắt; mangan; molybden; niken; coban; cromit; than antraxit; apatit; graphit.
Bộ Công Thương nhấn mạnh danh mục này xác định phạm vi khoáng sản cần rà soát, nhưng không đồng nghĩa toàn bộ 19 khoáng sản đều đương nhiên thuộc danh mục được phép xuất khẩu. Việc lựa chọn phải được xem xét riêng theo từng khoáng sản, từng chuỗi công nghệ và mức độ chế biến phù hợp.
Quặng vàng, tinh quặng vàng và các sản phẩm trung gian từ chế biến quặng vàng không được đưa vào danh mục được phép xuất khẩu (Ảnh minh họa: DT).
Kết quả rà soát 19 khoáng sản của Bộ Công Thương cho thấy có sự khác biệt đáng kể về quy mô và khả năng huy động tài nguyên, tình trạng khai thác, mức độ hoàn thiện của chuỗi chế biến, nhu cầu sử dụng trong nước, thị trường tiêu thụ.
Quy mô tài nguyên, trữ lượng hoặc công suất theo quy hoạch không đồng nhất với nguồn nguyên liệu có thể huy động thực tế cho sản xuất hoặc xuất khẩu.
Bộ Công Thương nêu thực tế một số khoáng sản đã hình thành công đoạn chế biến tương đối sâu, như bô-xít - alumin, wolfram, đồng, thiếc, cromit, apatit và than antraxit. Một số khác mới chủ yếu dừng ở khai thác, tuyển hoặc đang từng bước hình thành công đoạn hóa luyện, tinh luyện, sản xuất vật liệu.
Trong cùng một khoáng sản có thể đồng thời tồn tại dòng sản phẩm chưa có khả năng sử dụng trực tiếp phù hợp trong nước và dòng nguyên liệu khác đang thiếu cho cơ sở chế biến.
Từ đó, Bộ Công Thương nêu quan điểm không thể xác định chính sách xuất khẩu chỉ căn cứ vào tên khoáng sản, lịch sử xuất khẩu, tình trạng tồn kho hoặc việc có hay không có khách hàng trong nước tại một thời điểm.
Không đưa quặng vàng vào danh mục xuất khẩu
Tại hồ sơ gửi tới Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương thông tin việc không đưa quặng vàng, tinh quặng vàng và các sản phẩm trung gian từ chế biến quặng vàng vào danh mục.
Cơ quan này lý giải, khi hàng hóa thuộc phạm vi "vàng nguyên liệu”, việc xuất khẩu thực hiện theo pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với urani, thori, qua rà soát của Bộ Công Thương không xác định quặng, tinh quặng và sản phẩm trung gian theo cơ chế xuất khẩu thông thường tại danh mục. Việc quản lý, xuất khẩu vật liệu thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về năng lượng nguyên tử thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.