“Nếu doanh nghiệp triển khai ESG phải bỏ ra một khoản vốn lớn để tiết kiệm năng lượng hay bảo vệ môi trường khiến giá thành sản phẩm tăng lên thì có nên ưu tiên đầu tư?”, ông Đinh Đức Hòa, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Môi trường Thế Kỷ Xanh, đặt ra câu hỏi trọng sự kiện ESG Company Tour gần đây do báo Dân trí tổ chức.
Câu hỏi này có thể khiến không ít chủ doanh nghiệp có mặt trong hội trường phải suy ngẫm bởi nỗi băn khoăn của ông Hòa phản ánh đúng tâm lý dè dặt của cộng đồng sản xuất.
Giữa bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt từng đồng giá bán, việc gánh thêm chi phí xử lý chất thải hay kiểm kê khí thải dễ tạo cảm giác doanh nghiệp đang tự đưa mình vào thế khó. Liệu sản phẩm "xanh" hơn nhưng đắt hơn có bị khách hàng quay lưng?

Bài toán môi trường khiến nhiều doanh nghiệp đau đầu, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may (Ảnh: Sơn Nguyễn).
Trong kinh doanh, lợi nhuận là nhất thời, thị phần là mãi mãi?
Dưới góc nhìn tài chính và quản trị, GS.TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TPHCM, cho rằng doanh nghiệp cần nhìn nhận câu chuyện chi phí dưới lăng kính thị trường dài hạn thay vì chỉ so đo lãi lỗ của từng đơn hàng trước mắt.
"Trong bóng đá, phong độ là nhất thời, đẳng cấp là mãi mãi. Còn trong kinh doanh, lợi nhuận là nhất thời, thị phần là mãi mãi", ông Trung nói. Lợi nhuận có thể biến động theo từng chu kỳ thị trường, nhưng thị phần mới là thước đo phản ánh sức cạnh tranh và khả năng tồn tại của một thương hiệu.
Nhiều đơn vị hiện nay vẫn giữ tư duy ứng phó ngắn hạn. Họ chỉ vội vã làm xanh khi đối tác xuất khẩu tại thị trường châu Âu yêu cầu, nhưng sẵn sàng bỏ qua các tiêu chí này khi chuyển sang bán ở thị trường khác dễ tính hơn. Lối tư duy chắp vá khiến dòng tiền tương lai thiếu ổn định, kéo theo nguy cơ mất thị phần khi toàn cầu đồng loạt siết chặt các hàng rào kỹ thuật về môi trường.
Chia sẻ từ thực tiễn điều hành tại Trường Đại học Ngân hàng TPHCM, ông Trung nhớ lại ban đầu trường lắp đặt hệ thống điện mặt trời cũng xuất phát từ những toan tính rất thực dụng như tiết kiệm hóa đơn tiền điện và làm đẹp hình ảnh.
Tuy nhiên, nếu chỉ làm theo kiểu đối phó bề ngoài, tư duy đó sẽ lan sang cả người học và làm sai lệch bản chất phát triển bền vững. Chuyển đổi xanh bắt buộc phải xuất phát từ nhận thức thực chất, xem đây là khoản đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn chứ không phải một khoản chi phí mất đi.
Xanh hóa và hiệu quả kinh tế: Hai mặt của một bài toán
Đứng ở vị trí nhà sản xuất, bà Ngô Thị Thu Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH FUJIWA Việt Nam, khẳng định việc tách rời chuyển đổi xanh với hiệu quả kinh doanh là một sai lầm phổ biến.
Theo bà, doanh nghiệp không thể đặt mình vào thế phải lựa chọn giữa một dự án vì môi trường và một dự án giúp tăng năng suất. Với một đơn vị sản xuất thực phẩm và đồ uống, mỗi đồng vốn bỏ ra phải đồng thời giải quyết cả hai mục tiêu.
“Chuyển đổi xanh phải gắn với hiệu quả sản xuất. Khi đầu tư máy móc, tự động hóa giúp tiết kiệm năng lượng, giảm hao phí và tăng năng suất, doanh nghiệp vừa đạt mục tiêu môi trường, vừa cải thiện hiệu quả kinh doanh. Nếu xác định rõ những lợi ích này, doanh nghiệp sẽ có cơ sở xây dựng phương án đầu tư bài bản và chứng minh hiệu quả khi tiếp cận tín dụng xanh”, bà Thủy chia sẻ. Khi chi phí vận hành được kéo giảm, áp lực tăng giá thành sản phẩm sẽ tự động được triệt tiêu.
Đặc biệt, khi vươn ra các thị trường khó tính như Mỹ hay Australia, các tiêu chuẩn xanh khắt khe về chất lượng và quy trình sản xuất không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà là điều kiện bắt buộc để hàng hóa được thông quan. Chấp nhận đầu tư bài bản giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô xuất khẩu, tạo ra dung lượng thị trường lớn hơn để bù đắp chi phí ban đầu.
Bên cạnh đó, việc hướng tới tiêu dùng xanh cũng là chìa khóa mở rộng thị trường. Với những thị trường xuất khẩu như Mỹ hay Australia, doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ các tiêu chí khắt khe hơn về chất lượng và quy trình sản xuất. Nếu ngần ngại chi phí mà chần chừ làm xanh, doanh nghiệp sẽ tự tước đi cơ hội tiếp cận những thị trường lớn.

Bà Ngô Thị Thu Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH FUJIWA Việt Nam, khẳng định việc tách rời chuyển đổi xanh với hiệu quả kinh doanh là một sai lầm phổ biến (Ảnh: DT).
Chia sẻ trực tiếp về câu hỏi liệu có nên đầu tư môi trường khi đối mặt nguy cơ tăng giá thành, ông Bông Hoa Việt, Giám đốc Phát triển Bền vững của Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh, cho biết: “Tôi có 10 năm trong làm nhựa, chuyên phụ trách khâu quản trị công ty. Trong quản trị, có một quy tắc trọng điểm là trước mắt phải tuân thủ quy định pháp luật, cụ thể là quy định về nước thải, chất thải…”.
Tại nhà máy ở Tây Ninh, Nhựa Bình Minh đã chủ động đầu tư nhà máy xử lý nước thải riêng trước khi xả ra khu công nghiệp. Ông Việt khẳng định: “Chúng tôi làm không phải vì sợ khu công nghiệp phạt mà là ý thức làm đúng theo quy định. Nhưng cũng không có nghĩa chúng ta làm mà không suy nghĩ gì, phải có giải pháp vừa đáp ứng quy định về thải, vừa làm sao tiết kiệm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp”.
Theo ông Việt, doanh nghiệp đã xây dựng công cụ để từng người lao động tự động tìm ra các điểm nghẽn thực tế để xử lý. Nhờ giải quyết dựa trên dữ liệu thực tế chứ không chỉ ngồi một chỗ suy nghĩ, doanh nghiệp vừa đáp ứng tốt quy định pháp luật về môi trường, vừa tối ưu hóa được chi phí hoạt động.
Nhìn lại quá trình này, đại diện Nhựa Bình Minh chỉ tiếc một điều là đã không làm sớm hơn: “Do đó, nếu được làm lại thì chúng tôi sẽ làm sớm hơn. Làm sớm hơn đó không có nghĩa là thấy gì làm đó, mà làm sớm hơn một cách đồng bộ, nhất quán... Cần phải làm sớm và làm nhất quán, đồng bộ cả quy trình”.
Lời giải vốn và sự đồng hành của ngân hàng từ giai đoạn ý tưởng
Một trở ngại lớn khiến các doanh nghiệp lo lắng bài toán chi phí là việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Bà Ngô Thị Thu Thủy cho biết, sau 7 năm hoạt động sản xuất, doanh nghiệp bà vẫn chưa mạnh dạn vay vốn ngân hàng do lo ngại áp lực lãi suất. Việc tiếp cận nguồn tài chính xanh còn nhiều rào cản do yêu cầu khắt khe về hồ sơ, tiêu chí đánh giá, trong khi nhiều đơn vị thiếu kiến thức và kinh nghiệm để hoàn thiện.
“Chúng tôi đang từng bước hoàn thiện hồ sơ để tiếp cận tài chính xanh, nhưng không thể làm được trong một sớm một chiều. Trong khi đó, hoạt động sản xuất, nhu cầu đầu tư và mở rộng nhà máy không thể chờ đợi”, bà Thủy bày tỏ.
Giải đáp vấn đề này, GS.TS Nguyễn Đức Trung khẳng định nguồn vốn cung ứng cho chuyển đổi xanh hiện nay không hề thiếu. Tổng dư nợ tín dụng xanh của toàn hệ thống ngân hàng đã đạt khoảng 856.000 tỷ đồng, minh chứng cho sự quan tâm đặc biệt của các tổ chức tín dụng đối với những dự án đạt chuẩn.
Tuy nhiên, bản chất ngân hàng là một tổ chức kinh tế phải tự cân đối thu chi, bảo đảm dòng tiền an toàn. Cấp tín dụng tương tự như việc bán chịu sản phẩm; nếu bán chịu tràn lan cho những đơn vị không đủ năng lực trả nợ thì rủi ro mất vốn rất cao. Vì vậy, nguồn vốn ưu đãi bắt buộc phải đi kèm điều kiện thẩm định chặt chẽ để bảo đảm sự công bằng.
Đối với tính chất "xanh", dự án bắt buộc phải nằm trong danh mục phân loại gồm 7 lĩnh vực và 45 loại hình dự án xanh theo Quyết định 21/2025 của Chính phủ. Đối với khối sản xuất, dự án thường tập trung vào 3 nhóm: tiết kiệm năng lượng và tự động hóa dây chuyền; giảm phát thải và xử lý chất thải môi trường; đầu tư phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió.
Ông Trung chỉ ra rằng điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp là thiếu dữ liệu chuẩn hóa: “Một yêu cầu mấu chốt đối với tín dụng xanh là dự án không thể dừng lại ở lời nói hay những tuyên bố cảm tính mà bắt buộc phải định lượng, đo lường được và minh chứng được tác động tích cực đối với môi trường thông qua sự kiểm toán độc lập".

Theo GS.TS Nguyễn Đức Trung, minh bạch dữ liệu phát thải và kiểm toán môi trường độc lập là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiếp cận dòng vốn tín dụng xanh ưu đãi (Ảnh: DT).
Ông cũng nhấn mạnh rằng doanh nghiệp phải kiên quyết chống lại mọi hành vi "tẩy xanh" (greenwashing), tuyệt đối không áp dụng các hình thức quảng cáo hay thông điệp sai lệch để gắn nhãn xanh cho dự án.
Để tối ưu hóa quá trình tiếp cận nguồn vốn và tránh lãng phí thời gian, GS.TS Nguyễn Đức Trung khuyên doanh nghiệp không nên đợi đến khi hoàn tất toàn bộ hồ sơ kỹ thuật mới tìm gặp ngân hàng. Thay vào đó, doanh nghiệp nên chủ động tiếp cận ngay từ khi dự án mới dừng ở mức ý tưởng.
Sự đồng hành sớm từ đầu giúp ngân hàng hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng phương án đúng tiêu chuẩn thẩm định, đồng thời tạo điều kiện để ngân hàng chủ động phân bổ nguồn vốn phù hợp. Khi doanh nghiệp minh bạch thông tin, chứng minh được hiệu quả dòng tiền và tác động môi trường đo đếm được, cánh cửa tín dụng xanh sẽ luôn rộng mở để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững mà không lo áp lực đội giá thành.