Từ tuyển sinh sang tiếp nhận học sinh
Mỗi mùa tuyển sinh đầu cấp, câu chuyện chọn trường, chọn lớp lại trở thành mối quan tâm của nhiều gia đình. Tại những địa bàn có nhu cầu học tập lớn, phụ huynh không chỉ lo tìm chỗ học cho con mà còn tìm cách để con được vào trường có điều kiện dạy học tốt. Áp lực ấy đôi khi bắt đầu từ trước khi trẻ vào lớp 1 và kéo dài qua các cấp học.
Dự thảo Quy chế tiếp nhận học sinh đầu cấp giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) công bố lấy ý kiến hướng tới thay đổi cách tiếp cận này. Thay vì đặt trọng tâm vào việc tuyển chọn, dự thảo nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan quản lý và nhà trường trong việc chuẩn bị điều kiện để tiếp nhận học sinh đúng độ tuổi.
Ông Thái Văn Tài, Vụ trưởng Giáo dục Trung học, Bộ GD&ĐT cho biết, dự thảo kế thừa những quy định còn phù hợp, đồng thời cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Bảo đảm quyền được học của trẻ em, thực hiện giáo dục bắt buộc ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông là những định hướng xuyên suốt.
Theo ông Thái Văn Tài, để bảo đảm mọi trẻ em trong độ tuổi được đến trường, chính quyền địa phương phải nắm chắc số lượng học sinh, dự báo nhu cầu học tập và chuẩn bị trước về cơ sở vật chất, trường lớp, đội ngũ giáo viên. Việc tiếp nhận học sinh vì thế không chỉ là công việc của nhà trường vào đầu năm học mà cần được tính toán từ khâu quy hoạch mạng lưới giáo dục.
Theo dự thảo, UBND cấp tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch tổng thể; UBND cấp xã, phường tổ chức triển khai, điều phối trên cơ sở điều kiện thực tế của từng trường. Các cơ sở giáo dục căn cứ kế hoạch chung để xây dựng phương án tiếp nhận phù hợp. Một nguyên tắc đáng chú ý là không phân biệt địa giới hành chính, tạo điều kiện để học sinh được học tại trường gần nhà. Nếu được triển khai đồng bộ, quy định này có thể giúp giảm thời gian đi lại, hạn chế tình trạng phụ huynh phải tìm trường xa nơi cư trú và giảm áp lực cạnh tranh vào một số cơ sở giáo dục.
Tuy nhiên, điều đó cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý. Ở những khu vực đông dân cư, số học sinh tăng nhanh hoặc trường lớp chưa đáp ứng đủ nhu cầu, địa phương cần có phương án điều tiết cụ thể, tránh tình trạng nơi quá tải, nơi chưa sử dụng hết công suất. Việc dự báo dân số trong độ tuổi đi học phải gắn với kế hoạch đầu tư phòng học và bố trí giáo viên, thay vì chỉ giải quyết khi năm học mới đã cận kề.
Không tạo áp lực cho trẻ ngay từ đầu cấp
Đối với tuyển sinh lớp 1, dự thảo quy định không kiểm tra, đánh giá, phân loại hoặc tuyển chọn trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào. Với lớp 6, việc phân bổ học sinh cũng không nhằm tuyển chọn hoặc loại những em đã đáp ứng điều kiện tiếp nhận. Ngoại lệ là các cơ sở giáo dục được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, thành tích nổi bật để phát triển giáo dục mũi nhọn.
Những quy định này hướng tới giảm áp lực cho học sinh, nhất là trẻ chuẩn bị bước vào tiểu học. Thay vì phải trải qua các hình thức kiểm tra đầu vào, trẻ có điều kiện chuyển tiếp tự nhiên hơn từ bậc mầm non lên lớp 1.
Đồng tình với chủ trương này, anh Hoàng Trọng Khang, một phụ huynh tại Hà Nội cho rằng, việc không kiểm tra để tuyển chọn học sinh lớp 1 là cần thiết, giúp trẻ bước vào môi trường học tập mới với tâm thế vui vẻ, hào hứng, thay vì phải luyện thi từ sớm. Tuy nhiên, theo anh Khang, dù đã có quy định không kiểm tra đầu vào, việc đánh giá trẻ dưới những hình thức khác nhau vẫn có thể xảy ra, nhất là tại một số trường ngoài công lập. Vì vậy, quy định mới cần được thực hiện nghiêm túc, đi cùng cơ chế giám sát để tránh phát sinh những hình thức tuyển chọn không phù hợp.
Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm khi triển khai quy chế. Nếu chỉ quy định nguyên tắc mà thiếu kiểm tra, giám sát, áp lực tuyển sinh có thể chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, trong khi trẻ vẫn phải chịu sức ép không cần thiết.
Với lớp 6, việc phân bổ học sinh theo hướng không tuyển chọn hoặc loại những em đủ điều kiện tiếp nhận được kỳ vọng giúp hạn chế tình trạng chạy trường, chạy lớp. Song, tâm lý chọn trường của phụ huynh không dễ thay đổi nếu chất lượng giáo dục giữa các cơ sở còn nhiều chênh lệch.
Ông Thái Văn Tài lưu ý, trong bối cảnh sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục, một số trường có nhiều phân hiệu, việc xây dựng kế hoạch giáo dục thống nhất là yêu cầu quan trọng. Các phân hiệu cần có cam kết chất lượng chung, bảo đảm đội ngũ giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất, tránh để phụ huynh hình thành tâm lý phân biệt giữa nơi này với nơi khác.
Thực tế cho thấy, giảm áp lực tuyển sinh không chỉ là giảm các kỳ thi mà còn phải tạo niềm tin để phụ huynh yên tâm cho con học tại trường gần nhà. Khi chất lượng giáo dục được bảo đảm ở các cơ sở, nhu cầu tập trung vào một số trường sẽ giảm, qua đó góp phần hạn chế cạnh tranh không cần thiết.
Giảm môn thi tuyển sinh vào lớp 10
Đối với tuyển sinh lớp 10, dự thảo tiếp tục duy trì các phương thức xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp cả hai. Sở GD&ĐT căn cứ quy mô học sinh, nhu cầu học tập, khả năng tiếp nhận của trường, mạng lưới trường lớp và điều kiện bảo đảm chất lượng để quyết định phương thức phù hợp với từng cơ sở hoặc nhóm cơ sở giáo dục.
Theo ông Thái Văn Tài, trong một năm qua, tỷ lệ học sinh sau lớp 9 được vào học lớp 10 đã tăng từ 75% lên hơn 80%. Một số địa phương đạt tỷ lệ 95%, thậm chí 97%. Khi cơ hội học tiếp sau THCS được mở rộng, việc tổ chức thi tuyển để lựa chọn học sinh sẽ không còn cần thiết ở nhiều nơi. Các địa phương có đủ điều kiện có thể thực hiện xét tuyển học bạ.
Với những nơi vẫn phải tổ chức thi tuyển, dự thảo đề xuất kỳ thi gồm hai môn Toán và Ngữ văn, với nội dung không vượt quá yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS. Trường THPT chuyên tổ chức thêm bài thi môn chuyên để lựa chọn học sinh có năng khiếu.
Ông Thái Văn Tài cho biết, giảm số môn thi nhằm hạn chế áp lực thi cử và tránh tình trạng học sinh tập trung quá nhiều vào những môn được lựa chọn để thi. Khi kỳ thi trở thành mục tiêu chính, hoạt động dạy và học dễ bị cuốn vào luyện đề, ghi nhớ kiến thức để đạt điểm số, ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực toàn diện.
Đồng tình với phương án thi hai môn, thầy Đào Tuấn Đạt, Hiệu trưởng Trường THPT Anhxtanh (Hà Nội cho rằng, Toán và Ngữ văn là hai môn học nền tảng, có thể phản ánh tương đối toàn diện năng lực tư duy của học sinh. Trong đó, Toán giúp đánh giá khả năng suy luận, phân tích và giải quyết vấn đề; Ngữ văn thể hiện năng lực đọc hiểu, lập luận và diễn đạt. Theo thầy, điều quan trọng không phải là tăng số môn thi, mà là lựa chọn những môn học có khả năng đánh giá phù hợp, đồng thời hạn chế áp lực không cần thiết đối với học sinh.
Tuy nhiên, giảm số môn thi không có nghĩa là xem nhẹ các môn học còn lại. Học sinh vẫn cần được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng theo chương trình giáo dục phổ thông. Để tránh tình trạng học lệch, nhà trường cần duy trì việc đánh giá quá trình học tập, bảo đảm chất lượng dạy học ở tất cả các môn, trong đó có tiếng Anh.
Dự thảo đang được lấy ý kiến để tiếp tục hoàn thiện. Những góp ý từ cơ quan quản lý, giáo viên, nhà trường và phụ huynh sẽ góp phần làm rõ hơn các phương án tiếp nhận, điều phối học sinh phù hợp với thực tế.
Bài và ảnh: Thanh Hà, Bích Ngọc