Bỏ qua điều hướng

Dữ liệu chuẩn là nền móng của chuyển đổi số ngành nước

Dữ liệu chuẩn là nền móng của chuyển đổi số ngành nước
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Từ quản lý công trình sang quản trị dựa trên dữ liệu, từ số hóa từng khâu đến hình thành hệ sinh thái số xuyên suốt đang được xác định là hướng đi quan trọng để ngành nước nâng cao hiệu quả vận hành, giảm thất thoát, kiểm soát rủi ro và cải thiện chất lượng dịch vụ trong kỷ nguyên mới. Vietnam Water...

Chiều 16/9, tại Tọa đàm “Chuyển đổi số ngành nước trong kỷ nguyên mới” trong khuôn khổ Tuần lễ ngành nước Việt Nam 2026, các chuyên gia, cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp công nghệ cùng tập trung thảo luận về vấn đề: làm thế nào để chuyển đổi số thực sự tạo ra giá trị cho ngành nước, thay vì chỉ dừng lại ở việc đầu tư thêm phần mềm, thiết bị hay các hệ thống công nghệ riêng lẻ.

Từ quản lý công trình sang quản trị dựa trên dữ liệu

nguyen-minh-duc.jpg
Ông Nguyễn Minh Đức, Trưởng phòng Quản lý cấp thoát nước, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng, Bộ Xây dựng phát biểu.

Một trong những thông điệp xuyên suốt tọa đàm là ngành nước đang đứng trước yêu cầu thay đổi phương thức quản trị. Theo ông Nguyễn Minh Đức, Trưởng phòng Quản lý cấp thoát nước, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng, Bộ Xây dựng, chuyển đổi số cần được nhìn nhận trong toàn bộ vòng đời của hệ thống cấp, thoát nước, từ quy hoạch, đầu tư, quản lý tài sản đến vận hành, cung cấp dịch vụ và quản lý rủi ro.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành nước phải đồng thời giải quyết nhiều bài toán: bảo đảm an ninh nguồn nước, quản lý ngập, thu gom và xử lý nước thải, nâng cao chất lượng dịch vụ, quản lý tài sản và tăng khả năng phục hồi trước các sự cố, thiên tai.

Cách tiếp cận mới vì thế không chỉ tập trung vào việc xây dựng thêm công trình mà phải hướng đến hiệu quả của dịch vụ. Các tiêu chí như tính liên tục, an toàn, chất lượng phục vụ, hiệu quả vận hành, chi phí vòng đời của tài sản và khả năng phục hồi cần trở thành những thước đo quan trọng. Thay vì quản lý từng công trình hoặc xử lý từng sự cố riêng lẻ, ngành cần quản trị đồng thời dịch vụ, tài sản, rủi ro và dữ liệu trong toàn bộ vòng đời của hệ thống.

Trong quá trình đó, chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa hồ sơ hay trang bị thêm thiết bị. Công nghệ phải được đặt trong mối quan hệ với con người, quy trình và dữ liệu để tạo ra hiệu quả sử dụng nguồn lực, kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Vai trò của Nhà nước được đặt ở việc kiến tạo thể chế, tiêu chuẩn, dữ liệu và năng lực giám sát; trong khi doanh nghiệp cấp nước phải là chủ thể trực tiếp tổ chức chuyển đổi số, xuất phát từ những bài toán cụ thể của hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ.

Ông Nguyễn Minh Đức cho biết, các yêu cầu đổi mới này cũng được đặt trong quá trình Bộ Xây dựng xây dựng dự án Luật Cấp, Thoát nước nhằm hình thành khung pháp lý thống nhất cho lĩnh vực cấp, thoát nước. Theo kế hoạch, hồ sơ dự án Luật dự kiến trình Chính phủ vào tháng 1/2027 và trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua vào tháng 5/2027.

Dự thảo luật đặt ra nhiều vấn đề cần được xử lý đồng thời, từ an ninh nguồn nước, quản lý ngập, xử lý và tái sử dụng nước thải đến chất lượng dịch vụ, quản lý tài sản theo vòng đời và quản trị dựa trên dữ liệu.

Trong đó, một nội dung đáng chú ý là tạo nền tảng pháp lý cho chuyển đổi số. Cách tiếp cận không dừng ở số hóa hồ sơ hay ứng dụng công nghệ mà hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp, đầu tư phát triển và vận hành hệ thống.

Không thể “nhảy cóc” lên AI nếu dữ liệu chưa sẵn sàng

nguyen-viet-anh.jpg
GS, TS Nguyễn Việt Anh, Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam phát biểu.

Từ góc độ chuyên môn, GS, TS Nguyễn Việt Anh, Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA), cho rằng chuyển đổi số trong ngành nước Việt Nam đã được triển khai ở nhiều mức độ nhưng chưa đồng đều. Một số doanh nghiệp đã ứng dụng GIS, SCADA, hệ thống quản lý khách hàng, đo đếm thông minh, IoT và các nền tảng phân tích dữ liệu; tuy nhiên, sự kết nối giữa các hệ thống vẫn là bài toán cần tiếp tục giải quyết.

Theo ông Nguyễn Việt Anh, mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp không nên được đo bằng số lượng phần mềm hay thiết bị được đầu tư, mà cần nhìn vào khả năng hình thành một hệ thống quản trị thực sự dựa trên dữ liệu.

Sáu nhóm năng lực có ý nghĩa quan trọng trong chuyển đổi số ngành nước gồm: chiến lược chuyển đổi số; hạ tầng số; dữ liệu và phân tích dữ liệu/trí tuệ nhân tạo (AI); quy trình nghiệp vụ số; tổ chức và nhân lực số; cùng khả năng tương tác số.

Phó Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam thừa nhận, điểm nghẽn nổi bật hiện nay là dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa được quản trị như một tài sản. Việc thiếu mã định danh thống nhất, từ điển dữ liệu, quy định về chủ sở hữu dữ liệu và tiêu chuẩn chất lượng dữ liệu khiến các hệ thống dù được số hóa vẫn khó kết nối và khai thác hiệu quả.

Bên cạnh đó là sự phân mảnh về thể chế, dữ liệu và quản lý giữa nguồn nước, cấp nước, thoát nước, chống ngập, quy hoạch và quản lý tài sản; trong khi cơ chế chia sẻ dữ liệu và cơ sở dữ liệu dùng chung còn hạn chế.

Từ thực tế này, GS, TS Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh ngành nước không nên quá tập trung vào câu hỏi “đã có AI hay chưa”. Logic chuyển đổi cần đi từ dữ liệu, đo lường, tài sản, tích hợp, mô hình, dự báo, tối ưu, sau đó mới tiến tới những công nghệ ở tầng cao hơn như AI hay Digital Twin.

Theo cách tiếp cận này, AI không phải “phép màu” có thể khắc phục dữ liệu kém chất lượng. Ngược lại, chất lượng dữ liệu, khả năng đo lường, chuẩn hóa quy trình và năng lực vận hành phải được củng cố trước khi mở rộng các ứng dụng AI và Digital Twin. Lộ trình chuyển đổi số vì vậy cần được thực hiện từng bước, có thí điểm, đo lường kết quả và đánh giá hiệu quả đầu tư.

Kết nối dữ liệu, số hóa ngành nước phải đi cùng an toàn thông tin

Giải quyết bài toán kết nối dữ liệu, ông Phạm Trọng Hiếu, Giám đốc Công nghệ thông tin Công ty CP Thiết lập Công nghệ Thiết bị SYSTEMS, tập trung vào mô hình hợp nhất dữ liệu trong chuyển đổi số ngành nước.

Thực tế tại nhiều doanh nghiệp là đã có nhiều hệ thống phục vụ từng nghiệp vụ, nhưng các hệ thống này có thể chưa “nói chuyện” được với nhau. Các hệ thống nếu vận hành như những “ốc đảo dữ liệu” sẽ hạn chế khả năng nhìn nhận toàn cảnh.

Do đó, hướng đi được ông Phạm Trọng Hiếu đề xuất là xây dựng kiến trúc hợp nhất, bắt đầu từ dữ liệu sạch và an toàn tại hiện trường, sau đó kết nối các lớp nghiệp vụ, hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ trung tâm điều hành và tiến tới các ứng dụng AI, tự động hóa, dự báo và tối ưu.

Theo hướng này, dữ liệu phải hình thành một vòng lặp khép kín: đo lường – thu thập – tích hợp – phân tích – quyết định – vận hành – tiếp tục tạo dữ liệu. Khi vòng lặp được duy trì, chuyển đổi số mới thực sự tác động vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thay vì chỉ tạo thêm một lớp công nghệ.

khong-duy-hung.jpg
Ông Khổng Huy Hùng, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghệ An ninh Không gian mạng Việt Nam.

Một hệ thống càng kết nối sâu thì yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin càng trở nên quan trọng. Đây là nội dung được ông Khổng Huy Hùng, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghệ An ninh Không gian mạng Việt Nam (VNCS), nguyên Phó Chủ tịch VNISA, tập trung phân tích tại tọa đàm.

Đặc thù của ngành nước là các hệ thống công nghệ thông tin ngày càng gắn chặt với công nghệ vận hành tại nhà máy. Thiết bị đo và các hệ thống điều khiển nước nếu được kết nối với mạng doanh nghiệp hoặc internet sẽ tạo thêm những điểm có thể phát sinh rủi ro.

Vì vậy, bảo vệ hệ thống công nghệ vận hành (OT) không thể hoàn toàn áp dụng tư duy bảo mật IT truyền thống. Bên cạnh bảo vệ dữ liệu, yêu cầu duy trì tính sẵn sàng và an toàn của quá trình vận hành phải được đặt lên hàng đầu.

Việc nhận diện tài sản OT, giám sát hệ thống, phân tích lưu lượng, phát hiện hành vi bất thường và chủ động nhận biết nguy cơ là những thành phần cần được tính đến ngay trong kiến trúc chuyển đổi số. Nói cách khác, theo ông Khổng Duy Hùng, an toàn thông tin không phải một lớp bổ sung sau khi chuyển đổi số đã hoàn thành, mà phải được thiết kế ngay từ đầu.

Các tham luận tại tọa đàm, dù tiếp cận từ những góc độ khác nhau, đều cho thấy chuyển đổi số ngành nước không phải cuộc chạy đua mua sắm công nghệ. Nếu nước là dòng chảy thiết yếu của cuộc sống, thì trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang trở thành một dòng chảy mới của ngành nước. Khi dòng chảy ấy được kết nối, chuẩn hóa, bảo vệ và đưa trở lại phục vụ vận hành, chuyển đổi số mới có thể đi từ những hệ thống rời rạc đến một ngành nước thông minh, hiệu quả, minh bạch và phát triển bền vững hơn.

LÂM THẢO

Tọa đàm “Chuyển đổi số ngành nước trong kỷ nguyên mới” chiều 16/9, trong khuôn khổ Tuần lễ ngành nước Việt Nam 2026, đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ đầu tư công nghệ riêng lẻ sang tạo giá trị thực chất. Theo đó, phần mềm, thiết bị chỉ phát huy hiệu quả khi được tích hợp với con người, quy trình và dữ liệu trong toàn bộ vòng đời hệ thống cấp, thoát nước. Ông Nguyễn Minh Đức, Trưởng phòng Quản lý cấp thoát nước, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng, Bộ Xây dựng, cho rằng chuyển đổi số phải bao quát từ quy hoạch, đầu tư, quản lý tài sản đến vận hành, cung cấp dịch vụ và kiểm soát rủi ro. Cách tiếp cận này giúp ngành nước đồng thời xử lý các bài toán về an ninh nguồn nước, quản lý ngập, thu gom và xử lý nước thải, chất lượng dịch vụ cũng như khả năng phục hồi trước sự cố, thiên tai. Vì vậy, dữ liệu chuẩn, đồng bộ và có khả năng chia sẻ phải trở thành nền móng của quản trị hiện đại. Sự thay đổi quan trọng không nằm ở việc xây thêm công trình, mà ở khả năng đo lường hiệu quả dịch vụ bằng các tiêu chí về tính liên tục, an toàn, chất lượng phục vụ, chi phí vòng đời tài sản và hiệu quả vận hành. Thay cho cách quản lý phân tán từng công trình hoặc xử lý từng sự cố, ngành nước cần quản trị thống nhất dịch vụ, tài sản, rủi ro và dữ liệu. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, tiêu chuẩn và năng lực giám sát, còn doanh nghiệp cấp nước phải tổ chức chuyển đổi số từ những nhu cầu cụ thể trong sản xuất, kinh doanh. Định hướng này đang được đưa vào dự án Luật Cấp, Thoát nước nhằm xây dựng khung pháp lý thống nhất cho lĩnh vực. Hồ sơ dự án Luật dự kiến trình Chính phủ vào tháng 1/2027 và trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua vào tháng 5/2027. Nếu nền tảng pháp lý gắn được chuẩn dữ liệu với quản lý tài sản theo vòng đời, tái sử dụng nước thải và chất lượng dịch vụ, chuyển đổi số sẽ trở thành công cụ nâng cao năng lực quản trị thay vì chỉ là một khoản đầu tư công nghệ.