
Nghiên cứu sinh Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) trong ngày tốt nghiệp. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến nay mới số hóa 51,3% dữ liệu văn bằng đại học và sau đại học - Ảnh: XUÂN TIẾN
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý giáo dục sang quản trị phát triển, xây dựng dữ liệu chính xác, cập nhật, thống nhất và dùng chung. Đó là định hướng chiến lược cho phát triển nguồn nhân lực. Muốn giảm lệ thuộc vào báo cáo hành chính, ngành giáo dục phải có dữ liệu đáng tin để nhận diện vấn đề, dự báo nhu cầu và phân bổ nguồn lực.
Kế hoạch 100 ngày
Ngành đang khẩn trương cập nhật, làm sạch và đồng bộ dữ liệu trong kế hoạch 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số.
Theo thông tin từ người tham gia triển khai, gần 30 triệu văn bằng đã được số hóa; cơ sở dữ liệu giáo dục nghề nghiệp đã hình thành với hơn 600 trường trung cấp, cao đẳng. Đó là kết quả đáng ghi nhận. Thủ tướng cũng yêu cầu làm sạch, gắn số định danh cho 12 triệu bản ghi văn bằng, chứng chỉ để tích hợp trên VNeID trước ngày 30-10-2026. Số hóa không đồng nghĩa với đã kiểm chứng và kết nối được.
Khó khăn lớn nằm ở hồ sơ hình thành qua nhiều thập niên. Yêu cầu số hóa văn bằng của người sinh từ năm 1970 trở về sau khiến khối lượng tài liệu lịch sử phải xử lý rất lớn. Sổ cấp bằng mỗi nơi ghi một cách; trường đổi tên, sáp nhập, chuyển cơ quan quản lý; tài liệu có thể phân tán, hư hỏng, thất lạc. Xác minh văn bằng có khi phải lần tìm sổ gốc và đơn vị giữ hồ sơ. Công việc ấy không thể hoàn thành chỉ bằng thao tác quét tài liệu.
Hồ sơ cũ không thể mặc nhiên có số căn cước hoặc những thông tin ngày trước chưa được thu thập. Cấu trúc dữ liệu phải phân biệt rõ: chưa nhập, chưa từng có, thất lạc hay đang xác minh. Nếu ép tất cả vào một biểu mẫu cứng, người thực hiện dễ điền cho đủ ô dù thiếu căn cứ. Một ô trống có giải thích còn đáng tin hơn thông tin được phỏng đoán để kịp tiến độ.
Đồng bộ hóa cũng không đơn giản là gom dữ liệu về một chỗ. Các hệ thống phải hiểu thống nhất từng trường thông tin, nối đúng người với quá trình học và văn bằng, phát hiện bản ghi trùng hoặc mâu thuẫn. Khi một sai sót được sửa có căn cứ, thông tin liên quan phải cập nhật nhất quán. Nếu chuyển cấp, tuyển sinh hay xác minh văn bằng vẫn phải nhập lại, hệ thống chưa giúp được nhà trường và người dân.
Máy móc có thể nhận dạng chữ, nhưng đối chiếu tên, ngày sinh, ngành học, năm tốt nghiệp vẫn cần người nắm nghiệp vụ. Không thể giao hồ sơ cho nhân viên kiêm nhiệm rồi chỉ đôn đốc hạn chót.
Mỗi cơ sở cần người nhập, người kiểm tra, đầu mối xử lý sai khác, kinh phí và hạ tầng phù hợp. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng địa phương phải khảo sát khối lượng thực tế, phân loại hồ sơ, hỗ trợ nơi khó khăn và xác định tiến độ khả thi.
Chiến dịch 100 ngày có tác dụng tập trung nguồn lực, tháo gỡ việc cấp bách, nhưng không thể thay cho lộ trình kiểm chứng dữ liệu lịch sử. Dữ liệu mới cần được chuẩn hóa ngay; hồ sơ cũ thiếu căn cứ phải có trạng thái và thời hạn xác minh riêng. Người đứng đầu ký số chỉ khi đã có quy trình kiểm tra rõ ràng. Dữ liệu dân cư giúp xác thực danh tính, không chứng minh kết quả tốt nghiệp là đúng. Cũng cần cho phép sửa sai, lưu vết chỉnh sửa và không đánh giá thấp cơ sở trung thực báo cáo phần chưa xác minh.
Làm sạch mới là một nửa công việc
Tuy nhiên, làm sạch mới là một nửa công việc. Dữ liệu giáo dục phải trở thành tài nguyên chung được khai thác đúng luật, không chỉ là kho số liệu phục vụ cơ quan quản lý. Người học cần tra cứu, sửa thông tin và sử dụng kết quả học tập khi học tiếp, tìm việc.
Nhà trường cần nhận diện học sinh có nguy cơ bỏ học, theo dõi kết quả sau tốt nghiệp để điều chỉnh đào tạo. Nhà tuyển dụng cần xác thực văn bằng và thông tin năng lực phù hợp; dữ liệu tổng hợp về học tập, việc làm còn giúp nhận biết nhu cầu nhân lực.
Vì thế, không thể thiết kế dữ liệu chỉ theo những biểu mẫu báo cáo có sẵn. Trước khi chốt cấu trúc và chuẩn kết nối, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tham vấn người học, nhà trường, doanh nghiệp, địa phương: họ cần gì, để làm gì, ai cập nhật và ai được quyền xem. Mẫu dữ liệu phải được thử nghiệm ở cơ sở có điều kiện khác nhau.
Cần kiểm tra: người học có tra cứu, đề nghị sửa sai được không; trường có phải nhập lại không; doanh nghiệp có xác thực văn bằng hợp pháp được không? Khả năng sử dụng thực tế phải là tiêu chí nghiệm thu, chứ không chỉ số lượng trường thông tin đã điền.
Dùng chung cũng không có nghĩa mọi dữ liệu đều công khai. Cần phân quyền theo mục đích, ghi nhận lịch sử truy cập, bảo vệ thông tin cá nhân và chỉ chia sẻ khi có căn cứ pháp lý thích hợp. Dữ liệu tổng hợp phục vụ nghiên cứu, dự báo phải được xử lý để tránh nhận diện cá nhân. Khi người học phát hiện sai sót, phải có nơi tiếp nhận và thời hạn xử lý rõ ràng.
Sau chiến dịch, cập nhật, đối chiếu và sửa sai phải trở thành công việc thường xuyên, có người chịu trách nhiệm và kinh phí duy trì. Kết quả phải đo bằng độ tin cậy, khả năng sử dụng và thời gian giải quyết công việc.
Cần đủ thời gian và sức người để làm sạch dữ liệu; càng cần thiết kế đúng để dữ liệu sống và có ích. Một kho dữ liệu lớn mà không ai khai thác hiệu quả vẫn chỉ là kho lưu trữ.
Lần đầu tiên khái niệm văn bằng số, chứng chỉ số được quy định cụ thể ở một quy chế thống nhất mới được Bộ GD-ĐT ban hành.