Bỏ qua điều hướng

El Nino đe dọa nguồn nước nhiều lưu vực sông mùa khô 2027

El Nino đe dọa nguồn nước nhiều lưu vực sông mùa khô 2027
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Mức thiếu hụt dòng chảy trên một số sông có thể tương đương hoặc cao hơn những năm hạn hán nghiêm trọng 2015-2016 và 2019-2020, với khả năng thiếu hụt 15-78% so với trung bình nhiều năm. Nguy cơ thiếu nước được cảnh báo cao tại các lưu vực sông miền trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cà Mau chủ động ...

Nhiều lưu vực sông đứng trước nguy cơ thiếu nước

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường sáng 16/9, Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà cho biết, nguy cơ El Nino gây thiếu nước trong năm 2026-2027 được đánh giá rất cao, đặc biệt tại các lưu vực sông khu vực miền trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Theo ông Ngô Mạnh Hà, mức thiếu hụt dòng chảy trên một số sông có thể tương đương hoặc cao hơn những năm hạn hán nghiêm trọng 2015-2016 và 2019-2020, với khả năng thiếu hụt từ 15-78% so với trung bình nhiều năm. Các công trình thủy lợi, thủy điện sẽ đóng vai trò quan trọng trong giảm thiểu rủi ro hạn hán, thiếu nước.

Theo Cục Tài nguyên nước, phần lớn trong 705 hồ chứa thủy điện trên cả nước, đặc biệt hơn 130 hồ chứa thủy lợi lớn thuộc các quy trình vận hành liên hồ chứa, có khả năng không tích đủ nước. Khi đó, việc điều hòa, phân phối nguồn nước cho các mục đích sử dụng ở hạ du các lưu vực sông sẽ gặp nhiều khó khăn.

Khoảng 65% hồ chứa thủy lợi có khả năng không tích đủ nước so với dung tích thiết kế. Trong bối cảnh các hồ chứa thủy lợi ngày càng đảm nhiệm nhiều mục tiêu, từ cấp nước sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt đến sản xuất công nghiệp và các hoạt động kinh tế khác, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước có thể tác động đến nhiều lĩnh vực.

Tại các lưu vực sông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, hệ thống thủy lợi tương đối đồng bộ, khép kín, cùng dung tích hồ chứa lớn. Tuy nhiên, khu vực này vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của khoảng 29 triệu người do dòng chảy, mực nước sông suy giảm và gia tăng xâm nhập mặn.

Khoảng 800.000 ha đất sản xuất có nguy cơ thiếu nước. Cùng với đó là nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng, an toàn hệ thống điện do thủy điện chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các hồ chứa có nguy cơ không tích đủ nước, mức thiếu hụt có thể từ 15-80% dung tích; dòng chảy mùa cạn cũng được dự báo suy giảm.

Đối với lưu vực sông Duyên hải Nam Trung Bộ, mức độ dễ tổn thương cao do sông ngắn, dốc, hạ tầng trữ và điều tiết nước còn hạn chế, mùa khô kéo dài và dòng chảy suy giảm mạnh. Dự báo dòng chảy trên sông Kôn giảm 72,8%, sông Ba giảm 67,5% và sông Thu Bồn giảm 52,8%.

Tình trạng này có thể gây thiếu nước sinh hoạt, sản xuất, nhất là tại Đà Nẵng, hạ lưu sông Ba, thượng và trung lưu sông Ba, thượng lưu sông Kỳ Lộ. Các công trình cấp nước nông thôn và công trình khai thác nước trên sông, suối nhỏ cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng.

Tại hạ lưu Vu Gia-Thu Bồn, xâm nhập mặn có thể ảnh hưởng đến cấp nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp tại Đà Nẵng. Rủi ro thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp cũng ở mức cao do tỷ lệ diện tích được tưới bằng hệ thống thủy lợi còn thấp; tại lưu vực sông Ba chỉ đạt khoảng 23%, Vu Gia-Thu Bồn khoảng 35%. Trong khi đó, mùa khô kéo dài, thời gian canh tác lại trùng với mùa khô.

Khả năng điều tiết của các hồ chứa, đập dâng hạ du còn hạn chế; nhiều hồ thủy lợi nhỏ có vai trò quan trọng nhưng có nguy cơ không tích đủ nước. Các ngành sản xuất có hiệu quả kinh tế cao tại các khu kinh tế, khu công nghiệp và hành lang kinh tế trên lưu vực Vu Gia-Thu Bồn cũng đứng trước nguy cơ thiếu nước.

Tại lưu vực sông Tây Nguyên, sản xuất nông nghiệp được đánh giá có nguy cơ bị ảnh hưởng lớn, nhất là diện tích cây công nghiệp, cây lâu năm nằm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình thủy lợi, phụ thuộc vào ao hồ nhỏ, sông suối và nước dưới đất. Tỷ lệ chủ động nước đối với cây lâu năm chỉ đạt khoảng 17-19%.

Nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng do nhiều nhà máy nước chủ yếu sử dụng nguồn nước từ hồ chứa, sông suối. Các công trình cấp nước nhỏ lẻ có thể gặp khó khăn khi lượng mưa, dòng chảy và nguồn nước dưới đất suy giảm.

Nguy cơ thiếu nước cục bộ cũng xuất hiện tại những khu vực hạ tầng thủy lợi còn thiếu, chưa đồng bộ, hồ chứa có dung tích nhỏ hoặc nằm ngoài phạm vi cấp nước của hồ chứa, nhất là tại một số địa phương thuộc Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng.

Trong khi đó, lưu vực sông Đông Nam Bộ có chỉ số căng thẳng nguồn nước mùa khô cao nhất cả nước do nhu cầu sử dụng nước lớn. Nguy cơ thiếu nước được đánh giá cao đối với sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhất là các khu vực sử dụng nguồn nước từ hệ thống Dầu Tiếng-Phước Hòa và các vùng chịu sự điều tiết của các hồ chứa Hàm Thuận-Đa Mi, Đơn Dương, Đại Ninh, Đồng Nai 2 và Đồng Nai 3.

Lưu vực này cũng đối mặt nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng do các nhà máy thủy điện có tổng công suất chiếm khoảng 13,8% toàn quốc. Việc huy động nguồn thủy điện không phù hợp với nhu cầu sử dụng nước của các ngành khác có thể làm gia tăng nguy cơ thiếu nước.

Tại lưu vực sông Nam Bộ, tổng lượng nước mặt và nhu cầu sử dụng nước đều lớn nhất cả nước, nhưng khu vực này đặc biệt nhạy cảm với El Nino do phụ thuộc gần 95% vào nguồn nước từ thượng lưu sông Mekong, trong khi trên lưu vực và vùng hạ lưu sông Mekong còn hạn chế về các hồ chứa điều tiết dung tích lớn.

Nếu xảy ra hạn hán, thiếu nước, các xã ven biển thuộc hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre, Nam Bến Tre, Gò Công... có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn, đặc biệt là hệ thống Gò Công.

ndo_br_dsc-2902.jpg
Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà thông tin nguy cơ El Nino gây thiếu nước trong năm 2026-2027.

Chủ động ứng phó từ sớm, từ xa

Trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước, ông Ngô Mạnh Hà cho biết giải pháp trọng tâm là chủ động từ sớm, từ xa; điều hòa, phân phối tài nguyên nước theo từng lưu vực sông, không chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới ứng phó.

Trước hết, cần theo dõi chặt chẽ, cập nhật thường xuyên các bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; đồng thời tăng cường dự báo, cảnh báo tại các khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước, đặc biệt ở miền trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Các địa phương, đơn vị quản lý công trình cần chủ động tích nước sớm tại các hồ chứa thủy lợi, thủy điện phù hợp với điều kiện từng lưu vực sông ngay từ mùa lũ, tạo nguồn nước dự trữ để điều tiết tiết kiệm cho mùa khô năm 2027, trong đó ưu tiên cao nhất cho nhu cầu nước sinh hoạt.

Cục Tài nguyên nước sẽ sớm công bố kịch bản nguồn nước trên các lưu vực sông, làm cơ sở xây dựng và triển khai phương án phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn. Đồng thời, xây dựng phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước đối với các lưu vực sông được nhận diện có nguy cơ thiếu nước hoặc thiếu nước nghiêm trọng theo quy định của Luật Tài nguyên nước.

Cùng với đó, cần chủ động xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, cắt giảm diện tích canh tác tại những khu vực có nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là diện tích đất nông nghiệp nằm ngoài phạm vi cấp nước của các hồ chứa thủy lợi, thủy điện tại Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Các cơ quan, đơn vị cũng cần điều chỉnh chế độ khai thác nước đối với các công trình ở hạ du hồ chứa thủy điện, nhằm tận dụng tối ưu nguồn nước trong trường hợp hồ thủy điện phải vận hành để bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống điện, đồng thời phù hợp với phương án điều hòa, phân phối nguồn nước trong điều kiện hạn hán, thiếu nước do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng.

THANH TRÀ

Nguy cơ El Nino trong năm 2026-2027 đang đặt nhiều lưu vực sông trước sức ép thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt tại miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Tại họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường sáng 16/9, Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà cảnh báo dòng chảy trên một số sông có thể thiếu hụt 15-78% so với trung bình nhiều năm, tương đương hoặc cao hơn các đợt hạn hán 2015-2016 và 2019-2020. Rủi ro gia tăng khi phần lớn trong 705 hồ chứa thủy điện, cùng hơn 130 hồ thủy lợi lớn thuộc các quy trình vận hành liên hồ chứa, có khả năng không tích đủ nước. Khoảng 65% hồ chứa thủy lợi được dự báo không đạt dung tích thiết kế, gây khó khăn cho việc phân phối nước ở hạ du và đồng thời ảnh hưởng đến sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp cùng nhiều hoạt động kinh tế. Tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, dù hệ thống thủy lợi tương đối đồng bộ và dung tích hồ chứa lớn, khoảng 29 triệu người cùng 800.000 ha đất sản xuất vẫn có nguy cơ chịu tác động do dòng chảy, mực nước sông suy giảm và xâm nhập mặn gia tăng. Hầu hết hồ chứa tại khu vực có thể thiếu 15-80% dung tích, kéo theo sức ép đối với cấp nước, sản xuất và an ninh năng lượng trong bối cảnh thủy điện chiếm tỷ trọng lớn. Duyên hải Nam Trung Bộ dễ tổn thương hơn do sông ngắn, dốc, mùa khô kéo dài và năng lực trữ, điều tiết nước hạn chế. Dòng chảy dự báo giảm 72,8% trên sông Kôn, 67,5% trên sông Ba và 52,8% trên sông Thu Bồn, đe dọa cấp nước tại Đà Nẵng, lưu vực sông Ba, thượng lưu sông Kỳ Lộ và các công trình khai thác trên sông, suối nhỏ. Rủi ro đối với nông nghiệp càng lớn khi diện tích được tưới bằng hệ thống thủy lợi tại lưu vực sông Ba chỉ khoảng 23%, còn Vu Gia-Thu Bồn khoảng 35%, trong khi xâm nhập mặn ở hạ lưu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nước sinh hoạt và sản xuất.