Xăng dầu thiết lập mặt bằng giá mới
Hôm qua (21.9), ghi nhận lúc 14 giờ 30 (theo giờ VN), giá dầu thế giới giảm khoảng 2% so với phiên cuối tuần. Tuy vậy, các phân tích đều nhận định giá dầu thế giới tiếp tục biến động khó lường và có thể duy trì đà tăng mạnh do ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị, xung đột kéo dài tại các khu vực cung ứng năng lượng trọng điểm và chính sách cắt giảm sản lượng của các quốc gia xuất khẩu.
Ngoài những rủi ro liên quan đến nguồn cung, hoạt động vận chuyển qua các tuyến hàng hải chiến lược bị thắt chặt, chi phí bảo hiểm các tàu hàng tăng và các cơ sở dầu khí bị tấn công liên tục khiến thị trường tiếp tục biến động mạnh. Trong tháng 9, giá dầu Brent chuẩn toàn cầu có nhiều phiên tăng vượt mốc 100 USD/thùng. Mức bình quân giá xăng dầu thành phẩm trên thị trường Singapore giữa hai kỳ điều chỉnh ngày 10 - 17.9 cũng tăng từ 10 - 14%.

Giá xăng dầu trong nước tăng mạnh theo biến động giá thế giới
ẢNH: NHẬT THỊNH
Tình hình này đã tạo áp lực lớn lên thị trường năng lượng trong nước. Tại kỳ điều hành giá xăng dầu tuần trước (17.9), dù liên bộ Công thương - Tài chính chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu với dầu diesel 2.000 đồng/lít, xăng sinh học 1.250 đồng/lít, tuy vậy giá xăng E5, E10 vẫn tăng gần 1.400 đồng lên 25.640 đồng/lít; dầu diesel tăng gần 1.500 đồng lên sát mốc 30.000 đồng/lít. Đây là lần tăng mạnh nhất và tăng lần thứ 2 liên tiếp trong nửa tháng. So với cuối tháng 6, giá xăng E10 đã cao hơn gần 29%, trong khi giá dầu diesel tăng khoảng 37%.
PGS-TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, bày tỏ lo ngại khi giá nhiên liệu đã tăng và duy trì ở mức cao, tác động sẽ lan sang chi phí giao thông, vận tải, logistics và cuối cùng là giá hàng hóa. Vì vậy, cần đặc biệt lưu ý độ trễ của quá trình truyền dẫn. Ngay cả khi giá xăng dầu bắt đầu giảm, giá cước và giá hàng hóa chưa chắc giảm ngay do doanh nghiệp (DN) còn phải hấp thụ những chi phí đầu vào đã tăng trước đó.
Áp lực lên giá cước vận tải và hàng hóa
Lưu ý của PGS-TS Đinh Trọng Thịnh hoàn toàn có cơ sở khi giá cước vận tải trong và ngoài nước trong bối cảnh hiện nay đối diện áp lực mới. Tác động dễ nhận thấy nhất sau mỗi đợt tăng giá nhiên liệu là chi phí vận tải. Chẳng hạn, khi giá xăng tăng 41% và giá dầu tăng gần 58% trong giai đoạn 26.2 - 11.3, rất nhiều địa phương ghi nhận giá cước vận tải tăng mạnh. Tại TP.HCM, giá cước vận tải tăng khoảng 10 - 20%; tại Hải Phòng tăng 15 - 30%; một số địa phương khác tăng từ 10 - 30%. Riêng vận tải hàng hóa và container tại Hải Phòng, Quảng Ninh tăng khoảng 10 - 24%, gây sức ép lên chuỗi cung ứng logistics.

Giá nhiên liệu tăng tác động đến chi phí vận chuyển, sản xuất và phân phối
ẢNH: NGỌC DƯƠNG
Chi phí vận chuyển tăng kéo theo giá nông sản, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng tăng. Các DN sản xuất thì "méo mặt" vì nguyên liệu như hạt nhựa, hóa chất, vật liệu xây dựng vốn phụ thuộc vào gốc dầu mỏ cũng tăng rất nhanh. Điều này ảnh hưởng lớn đến giá thành xây dựng.
Trao đổi với PV Thanh Niên, nhiều DN logistics cho hay sau khi điều chỉnh tăng mạnh để bù đắp chi phí nhiên liệu, các nhà xe, dịch vụ xe đầu kéo… có giảm giá nhẹ nhưng mức tăng bình quân đến nay vẫn từ 5 - 15%. PGS-TS Đinh Trọng Thịnh thừa nhận giá dầu diesel và xăng tăng trong thời gian ngắn đã tạo sức ép rõ rệt lên chi phí vận tải. Riêng tháng 8, chỉ số giá nhóm giao thông tăng tới 4,09%. Với diễn biến giá dầu thế giới hiện nay, giá dịch vụ vận tải và chi phí logistics trong nước khó giảm, trong khi xăng dầu là đầu vào của hầu hết các ngành sản xuất, dịch vụ. Vì vậy, tác động của đợt tăng giá không chỉ dừng ở chi phí đi lại của người dân mà còn nhanh chóng lan sang chi phí vận chuyển nguyên liệu, sản xuất, phân phối và cuối cùng là giá bán hàng hóa. Những ngành có tỷ trọng logistics cao như thực phẩm, nông sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng sẽ chịu áp lực rõ hơn. Nếu giá nhiên liệu tiếp tục neo cao, DN sẽ phải cân đối giữa hấp thụ chi phí để giữ thị phần và điều chỉnh giá bán để bảo đảm hiệu quả kinh doanh. Đây cũng là lý do áp lực lạm phát hiện nay không đơn thuần là câu chuyện của giá xăng dầu.
Trên thế giới, cú sốc năng lượng cũng đang tạo áp lực lên giá thành sản xuất và vận tải toàn cầu. Hãng tin Bloomberg đưa tin, chi phí đưa dầu từ Houston (Mỹ) tới châu Á hiện lên tới khoảng 26 USD/thùng, tương đương 52 triệu USD cho một chuyến hàng. Con số này bằng khoảng 1/4 giá hợp đồng tương lai dầu WTI của Mỹ. Trong khi đó, trước thời điểm xảy ra xung đột vào cuối tháng 2, chi phí vận chuyển chỉ chiếm một phần nhỏ trong giá dầu giao tới khách hàng. Giá cước tăng gấp 3 lần khiến lượng dầu thô Mỹ bán sang châu Á giảm mạnh. Tình trạng thiếu tàu cũng đang lan sang các phân khúc nhỏ hơn. Một số nhà máy lọc dầu châu Á phải dùng tàu có sức chứa chỉ khoảng 700.000 thùng để nhập dầu từ Mỹ, thay vì sử dụng siêu tàu như thông thường.
Xác nhận gặp khó khăn trong việc đặt tàu nên trong tháng 9, nhiều lô hàng xuất đi bị chậm và nhập về cũng chậm, bà Nguyễn Anh Anh, Công ty logistics T.M.A, nói: "Bên cạnh chi phí nhiên liệu tăng, hoạt động vận chuyển hàng hóa đang chịu thêm áp lực khi tàu về rất chậm, lịch tàu xuất cũng bị kéo dài do thiếu tàu. Tình trạng này khiến thời gian vận chuyển kéo dài, phát sinh thêm chi phí lưu kho, lưu bãi, nhân công và các khoản phụ phí logistics. Chi phí tăng đang lan sang toàn bộ chuỗi cung ứng, từ DN xuất nhập khẩu đến giá thành sản phẩm cuối cùng".
CPI đã đi hết dư địa, giải pháp nào để kiểm soát lạm phát ?
PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng trong bối cảnh hiện nay khó giữ mức kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đưa ra là 4,5%, vì khi đến tháng 8 chỉ số CPI đã "tiệm cận" mức này rồi. "Bộ Tài chính đã cập nhật 3 kịch bản lạm phát cho năm 2026 với các mức dự báo CPI bình quân lần lượt là 4,5%, 5% và 5,5%; Ngân hàng Nhà nước (NHNN) dự báo lạm phát năm nay tăng khoảng 4,5 - 5,5%. Theo tôi, chỉ có thể là 5%, không thể thấp hơn. Áp lực lạm phát năm nay mang đặc trưng của lạm phát chi phí đẩy, trong đó giá nguyên liệu đầu vào, chi phí logistics và biến động giá năng lượng thế giới đóng vai trò quan trọng. Điểm đáng chú ý là áp lực này diễn ra trong bối cảnh sức mua và hoạt động sản xuất trong nước đang phục hồi. Khi tổng cầu tăng, khả năng DN chuyển một phần chi phí đầu vào vào giá bán cũng lớn hơn", ông Thịnh nói. Do đó, theo ông Thịnh, nếu giá dầu thế giới chỉ tăng trong thời gian ngắn, tác động tới CPI có thể được hấp thụ một phần. Nhưng nếu giá năng lượng duy trì ở mức cao trong nhiều tháng, hiệu ứng lan tỏa sẽ lớn hơn và khó kiểm soát hơn.

Kiềm chế giá cả để lạm phát “trong vòng kiểm soát” là nhiệm vụ quan trọng trong 4 tháng cuối năm
ẢNH: nhật thịnh
"Điều quan trọng trong giai đoạn này là phải làm sao không để mặt bằng giá tiếp tục tăng thêm. Nếu chưa thể kéo giá xuống, ít nhất phải kiểm soát để tốc độ tăng chậm lại, hạn chế phát sinh thêm các chi phí không cần thiết", PGS-TS Đinh Trọng Thịnh nhấn mạnh. Đặc biệt, trong những tháng cuối năm, DN cần tiết giảm chi phí, tối ưu vận chuyển, sản xuất và phân phối để hạn chế việc chuyển toàn bộ phần tăng chi phí vào giá bán. Nhà quản lý cần kiểm soát chặt các khoản chi phí có thể tác động đến mặt bằng giá, nhất là chi phí giao thông, vận tải và logistics. Khi giá nhiên liệu giảm, các khoản chi phí vận chuyển phải được rà soát và điều chỉnh phù hợp, tránh việc giá hàng hóa tiếp tục neo cao trong khi chi phí đầu vào đã hạ.
Để bảo vệ mục tiêu lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô trong những tháng cuối năm, ông Thịnh cho rằng cần linh hoạt các công cụ thuế, phí và Quỹ bình ổn giá xăng dầu, sử dụng quỹ phù hợp để hạn chế các cú tăng giá đột biến. Với các mặt hàng, dịch vụ do nhà nước quản lý, cần cân nhắc giãn hoặc lùi thời điểm điều chỉnh giá điện, y tế, giáo dục, tránh tạo hiệu ứng "tăng giá chồng tăng giá". Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ và tài khóa cần được phối hợp linh hoạt. NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá phù hợp, kiểm soát mặt bằng lãi suất và tín dụng, trong khi chính sách tài khóa có thể tiếp tục hỗ trợ DN thông qua giảm thuế, phí, qua đó giảm áp lực chi phí đầu vào. Bảo đảm nguồn cung và thông suốt chuỗi cung ứng cũng đặc biệt quan trọng, nhất là tăng cường kiểm tra, ngăn tình trạng găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; đồng thời bảo đảm các nhà máy lọc dầu trong nước như Nghi Sơn và Bình Sơn duy trì vận hành ổn định, khai thác tối đa công suất để giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài.
Chính phủ yêu cầu quyết liệt kiểm soát giá 4 tháng cuối năm
Họp Ban Chỉ đạo điều hành giá trong 4 tháng cuối năm, Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính theo dõi sát CPI và giá các mặt hàng thiết yếu; tiếp tục triển khai các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí còn phù hợp để giảm chi phí đầu vào cho DN và người dân, nhất là đối với xăng dầu, phân bón. NHNN điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa; theo dõi tỷ giá, lãi suất, tín dụng và dòng vốn quốc tế nhằm hạn chế tác động của lạm phát nhập khẩu.
Bộ Công thương được yêu cầu theo dõi sát giá dầu, xăng dầu thành phẩm và các nguồn năng lượng chủ chốt; điều hành thị trường xăng dầu phù hợp, bảo đảm nguồn cung, không để xảy ra đứt gãy hoặc tình trạng găm hàng chờ tăng giá; đồng thời tăng cường kiểm tra việc kê khai, niêm yết giá và điều hòa cung cầu các mặt hàng thiết yếu. Đáng chú ý, các cơ quan quản lý vận tải, logistics được yêu cầu kiểm tra việc kê khai và thực hiện giá cước, xử lý trường hợp lợi dụng biến động giá xăng dầu để tăng cước bất hợp lý hoặc chậm giảm cước khi giá nhiên liệu giảm. Các địa phương cũng phải tăng cường kiểm tra, xử lý hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá và chủ động bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu.
TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Khu vực II, đánh giá áp lực tăng giá cả trong 4 tháng cuối năm hiện hữu qua 4 nhóm có nguy cơ lớn. Thứ nhất là việc điều chỉnh giá các dịch vụ công do nhà nước quản lý theo Nghị định 60 nhằm tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế, giáo dục. Các loại dịch vụ này có thể sẽ thay đổi. Cùng với đó là khả năng điều chỉnh tăng nhẹ giá bán lẻ điện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Thứ hai là áp lực từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào và cước phí logistics gia tăng trong bối cảnh giá hàng hóa thế giới biến động. Thứ ba là áp lực điều hành tỷ giá hối đoái VND/USD ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí nhập khẩu nguyên linh kiện phục vụ chu kỳ cao điểm sản xuất kinh doanh cuối năm. Cuối cùng là yếu tố cầu kéo từ sức mua của người dân gia tăng vào các dịp lễ hội liên tiếp cuối năm như Tết Trung thu, ngày 20.11, Giáng sinh…
Về dư địa kiểm soát lạm phát, ông Điển cho rằng đối với một nền kinh tế có độ mở lớn như VN, với kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP đạt gần 200%, thì ngưỡng lạm phát quanh mức 5% vẫn hoàn toàn chấp nhận được và phù hợp với đặc thù của các nền kinh tế đang phát triển. Kinh nghiệm điều hành của VN cũng chứng minh hệ thống quản lý từng vượt qua nhiều cú sốc giá dầu mỏ lớn, có giai đoạn giá xăng dầu biến động mạnh hơn gấp đôi, từ 19.000 đồng lên 44.000 - 45.000 đồng/lít nhưng kinh tế vĩ mô vẫn được giữ vững. Do đó, dư địa điều hành thực tế hiện nay vẫn đủ linh hoạt để Chính phủ duy trì đà tăng trưởng ổn định.
"Chúng ta đã có rất nhiều kinh nghiệm chèo lái kinh tế vĩ mô qua những giai đoạn cao điểm căng thẳng nên hoàn toàn có thể chủ động kiểm soát thị trường và giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế từ nay đến hết năm", TS Nguyễn Văn Điển nhìn nhận.
Theo Cục Thống kê, CPI tháng 8 tăng 0,47% so với tháng 7 và tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, CPI tăng 4,45%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,24%. Đây là mức tăng CPI bình quân 8 tháng cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2021 - 2026. Đáng chú ý, 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính tăng giá trong tháng 8. Nhóm giao thông tăng mạnh nhất, 4,09%, chủ yếu do giá xăng dầu tăng, đóng góp 0,41 điểm phần trăm vào mức tăng CPI chung. Nhóm giáo dục tăng 0,47%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,1%. Ở chiều ngược lại, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%. Với CPI bình quân đã tăng 4,45% sau 8 tháng, áp lực đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% cả năm đang rất lớn. Cục Thống kê cũng đánh giá áp lực lạm phát các tháng còn lại là thách thức lớn để hoàn thành mục tiêu năm 2026.