Luật Phát triển đô thị gồm 5 chương, 66 điều sẽ có hiệu lực từ 1/10, sau khi được Quốc hội thông qua tại kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất.
Luật quy định TPHCM và thành phố khác là đô thị đặc biệt (Thành phố) được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định.
Các đô thị đặc biệt được trao quyền rất lớn trong nhiều lĩnh vực, song đi kèm với đó, cơ chế kiểm soát quyền lực cũng được quy định chặt chẽ ngay trong luật.
Trụ sở UBND TPHCM (Ảnh: Nam Anh).
Theo giải trình của Chính phủ, với chính quyền Thành phố, có ý kiến đề nghị cần bổ sung, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực tương xứng với mức độ phân quyền.
Chính phủ khẳng định cơ chế kiểm soát quyền lực trong Luật Phát triển đô thị được thiết kế theo mô hình “phân quyền triệt để gắn với kiểm soát đa tầng” - đáp ứng đúng yêu cầu “có van, có khóa”.
Theo đó, Luật xác lập những “giới hạn đỏ” về nguyên tắc phân quyền, quy định rõ phân quyền không được ảnh hưởng ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia, phải tôn trọng quy luật thị trường.
Mọi cơ chế đặc thù đều loại trừ các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo.
Điều 3 và Điều 4 của Luật Phát triển đô thị đã quy định cụ thể về các nguyên tắc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền đối với chính quyền Thành phố, chính quyền địa phương ở nơi có khu kinh tế đặc biệt.
Trong đó, việc phân quyền phải bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, không trái các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; không phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, dân tộc, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia; quyền con người, quyền cơ bản của công dân…
Cùng với đó, việc phân quyền cũng cần bảo đảm vận hành nền hành chính quốc gia thống nhất, thông suốt, hiệu quả.
Giải trình của Chính phủ cũng khẳng định các “khóa” quyền lực cụ thể đã được nêu rõ trong luật.
Theo đó, trong xây dựng thể chế, dù TPHCM được ban hành văn bản khác quy định của Trung ương, vẫn phải tuân thủ quy trình chặt chẽ - đánh giá tác động, tham vấn ý kiến bộ ngành, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ trong 7 ngày kể từ ngày ban hành.
Đặc biệt, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ văn bản của Thành phố nếu trái pháp luật hay xâm phạm lợi ích quốc gia.
Trong cơ chế thí điểm (Sandbox - Điều 8 và Điều 31), Luật cũng “khóa” về thời gian tối đa 5 năm, gia hạn không quá 5 năm. UBND Thành phố phải tạm dừng ngay nếu thí điểm gây ảnh hưởng tiêu cực vượt dự báo.
Trong quản lý tài chính - đầu tư (Điều 33 và Điều 34), việc huy động vốn qua trái phiếu hay vay nợ phải nằm trong hạn mức nợ công được phê duyệt để “khóa” rủi ro vỡ nợ địa phương. Đối với các dự án lớn, Chính phủ vẫn giữ quyền quyết định mức bổ sung ngân sách có mục tiêu để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.
Trong xử lý dự án chậm triển khai (khoản 6 Điều 34), chính sách đặc biệt chỉ được áp dụng khi có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc bản án có hiệu lực và nghiêm cấm việc “hợp pháp hóa” các sai phạm do tham nhũng, trục lợi.
Với cơ chế giám sát hậu kiểm, Luật thiết lập hệ thống giám sát từ xa và định kỳ của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, cùng phản biện xã hội của MTTQ. Chính phủ khẳng định việc chuyển từ “tiền kiểm” (xin - cho) sang “hậu kiểm” gắn trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu chính là chốt chặn cuối cùng để kiểm soát quyền lực hiệu quả.
Ngoài ra, theo Chính phủ, Luật đã có các giới hạn cụ thể để kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện nội dung phân quyền.
Ví dụ, Thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác với văn bản của cơ quan Nhà nước ở Trung ương hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng, các bộ…, nhưng phải thực hiện tham vấn dự thảo văn bản với các bộ, ngành có liên quan, lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, giải trình ý kiến tham vấn, góp ý của cơ quan…
Tùy vào trường hợp cụ thể, Thành phố phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng với những vấn đề thuộc thẩm quyền của các cấp này.