Mã số vùng trồng từ lâu đã được xem là “tấm hộ chiếu” bắt buộc để nông sản bước vào các thị trường khó tính, đồng thời định hình lại phương thức canh tác an toàn, minh bạch và truy xuất nguồn gốc. Tại Hà Nội, chuyển biến từ những tấm mã số này đang hiện diện rõ nét trên đồng đất của nhiều hợp tác xã.
Đơn cử tại xã Mê Linh, Hợp tác xã Sản xuất và Cung ứng rau quả sạch Thắng Lợi đã chuyển đổi 15ha đất bãi xa bồi sang trồng chuối theo tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe, phân bón hữu cơ được ưu tiên sử dụng, thuốc bảo vệ thực vật chỉ dùng loại trong danh mục cho phép với liều lượng và thời gian cách ly nghiêm ngặt. Nhờ bảo đảm quy trình, mỗi năm hợp tác xã xuất bán ổn định từ 600 đến 800 tấn chuối sang nước bạn.
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội, tính đến tháng 9/2026, toàn thành phố duy trì 62 mã số vùng trồng với tổng diện tích 571,6ha. Trong đó có 9 mã phục vụ xuất khẩu (gồm 6 mã trầu bà, 1 mã chuối và 2 mã vùng trồng ớt chờ thị trường Trung Quốc phê duyệt) cùng 53 mã số phục vụ tiêu dùng nội địa đối với lúa, rau, cây ăn quả, dược liệu và hoa.
Thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ, ngành nông nghiệp thành phố đã rà soát, chuyển đổi 60 mã số sang định dạng mới, thu hồi 91 mã số cũ không còn duy trì và chủ động bàn giao hồ sơ quản lý về các địa phương nhằm tinh gọn thủ tục hành chính.
Lúng túng khi đưa quyền về cấp xã
Dù chủ trương phân cấp thẩm quyền cấp và quản lý mã số vùng trồng về cấp xã nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ cho người dân, song trên thực tế, đến nay các xã, phường trên địa bàn thành phố vẫn chưa phát sinh hồ sơ cấp mới hoặc cấp lại nào.
Nguyên nhân bắt nguồn từ việc các quy định mới theo Luật số 146/2025/QH15, Nghị định 38 và Nghị quyết 36 vẫn còn nhiều nội dung chưa được hiểu và áp dụng đồng nhất. Cụ thể, các khái niệm cơ bản như “vùng trồng”, “một loại cây trồng” chưa có hướng dẫn rõ ràng, khiến việc phân định ranh giới và xác định mã định danh cây trồng gặp khó khăn. Danh mục mã định danh cây trồng cũng chưa thống nhất về cấp độ phân loại khi có nơi xác định theo loài, có nơi theo giống hoặc nhóm cây, gây lúng túng trong chuẩn hóa cơ sở dữ liệu.
Bên cạnh đó, việc thiếu hụt quy trình sản xuất và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật đối với một số cây trồng đặc thù khiến cơ sở không có căn cứ đối chiếu. Với các vùng chuyên canh nằm xen kẹt trên địa bàn từ hai xã trở lên, hiện vẫn chưa có hướng dẫn xác định cơ quan tiếp nhận hồ sơ và phân chia trách nhiệm quản lý. Ranh giới giữa nhiệm vụ hậu kiểm của UBND cấp xã và kiểm tra kỹ thuật của cơ quan chuyên môn chuyên ngành cũng chưa được phân định rõ, trong khi cơ chế công nhận, kế thừa kết quả từ các chứng nhận VietGAP hay an toàn thực phẩm sẵn có vẫn còn bỏ ngỏ.
Để tháo gỡ điểm nghẽn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Mạnh Phương cho biết, Sở đang khẩn trương nghiên cứu, ban hành hướng dẫn thống nhất các tiêu chí về vùng trồng, phạm vi mã số và thẩm quyền xử lý vùng trồng liên xã. Cơ quan quản lý cũng sẽ rà soát, chuẩn hóa danh mục mã định danh cây trồng, bổ sung quy trình kỹ thuật làm căn cứ cấp mã số và làm rõ trách nhiệm hậu kiểm giữa cấp xã với cơ quan chuyên ngành.
Song song đó, thành phố sẽ hoàn thiện quy trình tạm dừng, khôi phục và thu hồi mã số; đồng bộ cơ sở dữ liệu liên thông giữa Trung ương và địa phương. Cơ chế kế thừa kết quả chứng nhận VietGAP và an toàn thực phẩm cũng sẽ sớm được ban hành nhằm giảm thiểu hồ sơ, chi phí tuân thủ cho nông dân, tạo bệ đỡ vững chắc để nông sản Thủ đô mở rộng liên kết chuỗi và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bài viết có sự phối hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội.