Bỏ qua điều hướng
•

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Khi ba nền tảng: năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tài chính phù hợp được củng cố, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó là nhận định của TS Nguyễn Quang Huy...

Nhu cầu vay vẫn “lỗi nhịp” với dòng vốn tín dụng

- Dư nợ của khu vực DNNVV hiện chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế. Nhưng nếu so vai trò đóng góp vào GDP cũng như số lượng đông đảo của khối doanh nghiệp này trong nền kinh tế, tỷ trọng này dường như chưa tương xứng nhu cầu thực tế. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

- Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, trong tám tháng đầu năm 2026, doanh số giải ngân cho DNNVV đạt hơn 3,8 triệu tỷ đồng; dư nợ đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế. Kết quả này ghi nhận nỗ lực của ngành ngân hàng trong việc đồng hành với doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, doanh số giải ngân bao gồm các khoản vay phát sinh trong kỳ, kể cả việc doanh nghiệp vay, trả nhiều lần; dư nợ phản ánh vốn còn đang được sử dụng tại một thời điểm. Để đánh giá đúng khả năng tiếp cận vốn cần xem thêm số doanh nghiệp được vay, mức độ đáp ứng nhu cầu, thời gian xử lý và hiệu quả sử dụng.

Thực tế, phát triển DNNVV có ý nghĩa chiến lược đối với việc củng cố nội lực, tạo việc làm và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Đây cũng là nơi nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh, hình thành sáng kiến và phát triển các nhà cung cấp trong nước. Chính vì vậy, hỗ trợ khu vực này cần gắn với mục tiêu nâng chất lượng doanh nghiệp, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Tỷ trọng dư nợ khoảng 20% gợi mở dư địa phát triển, nhưng cần được đặt trong tương quan với quy mô, ngành nghề và nhu cầu vốn. Trọng tâm là nhận diện doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng chưa được tài trợ phù hợp, đồng thời hỗ trợ những doanh nghiệp cần củng cố năng lực trước khi mở rộng đầu tư.

- Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV, song dường như nhu cầu của doanh nghiệp vẫn “lỗi nhịp” với dòng vốn tín dụng ngân hàng, thưa ông?

- Sự “lỗi nhịp” giữa nhu cầu vốn của doanh nghiệp và dòng vốn tín dụng ngân hàng là có thật. Chính vì vậy, các chương trình hỗ trợ nên tập trung vào chiến lược kinh doanh, marketing, bán hàng, tài chính, vận hành và nhân sự. Nội dung cần vừa sức, gắn với khó khăn cụ thể. Kết quả đánh giá nên thể hiện qua kế hoạch kinh doanh, dự báo dòng tiền, phương án bán hàng và công cụ quản lý được doanh nghiệp sử dụng.

Các địa phương, hiệp hội, đơn vị nghiên cứu, tổ chức tư vấn và ngân hàng có thể phối hợp hỗ trợ theo nhóm ngành, giai đoạn phát triển, kết hợp tư vấn tại doanh nghiệp, có theo dõi sau hỗ trợ. Hoặc có thể mời các doanh nhân giàu kinh nghiệm tham gia hướng dẫn quản trị tăng trưởng trực tiếp tại các doanh nghiệp.

Mặt khác, minh bạch tài chính cũng cần trở thành lợi ích tự thân của doanh nghiệp. Chuẩn hóa kế toán, tách bạch tài chính cá nhân với doanh nghiệp, quản lý công nợ và kiểm soát dòng tiền giúp người điều hành hiểu rõ “sức khỏe” doanh nghiệp. Một bộ hồ sơ đáng tin cậy sẽ là lợi thế khi làm việc với ngân hàng, đối tác và nhà đầu tư để mời gọi dòng vốn mới.

3-3922.jpg
Trong tám tháng đầu năm 2026, dư nợ của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế. Ảnh: Nguyễn Hùng

Củng cố cơ sở để dòng vốn đến đúng nhu cầu và tạo giá trị thực

- Theo ông, đâu là giải pháp có thể khơi thông các kênh dẫn vốn đến với cộng đồng doanh nghiệp, nhất là các DNNVV?

- Việc dồn hết gánh nặng lên “đôi vai” của ngành ngân hàng có vẻ không thỏa đáng. Lộ trình phù hợp là đáp ứng tiêu chuẩn, thực hiện tốt đơn hàng ban đầu rồi mở rộng trên cơ sở năng lực. Sự tự tin được xây dựng bằng chất lượng, uy tín giao hàng và thanh toán. Doanh nghiệp đầu chuỗi có thể hỗ trợ thông qua hướng dẫn kỹ thuật, kế hoạch mua hàng và điều khoản thanh toán hợp lý.

Thực tế, năng lực quản trị là nền tảng đầu tiên. Khi doanh nghiệp lớn lên, phương thức điều hành bằng kinh nghiệm cần được điều chỉnh, bổ sung bằng chiến lược, dữ liệu và phân công trách nhiệm. Một khoản vốn mới chỉ phát huy giá trị khi người điều hành xác định rõ đầu tư vào đâu, phục vụ khách hàng nào và thu hồi vốn như thế nào.

Cơ hội thị trường là nền tảng thứ hai. Doanh nghiệp có máy móc và lao động nhưng thiếu đơn hàng ổn định sẽ khó quyết định đầu tư. Vì vậy, hỗ trợ vốn cần gắn với kết nối giao thương trong nước và ngoài nước, giúp nhu cầu tài trợ hình thành từ hoạt động kinh doanh có đầu ra. Khi đầu ra rõ hơn, doanh nghiệp có cơ sở lập kế hoạch vốn, ngân hàng có thêm căn cứ thẩm định. Xúc tiến thương mại và tín dụng nhờ đó bổ trợ cho nhau.

Giải pháp tài chính phù hợp là nền tảng thứ ba. Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng, với yêu cầu thẩm định và bảo đảm an toàn vốn. Trên cơ sở đó, sản phẩm cần thích ứng với chu kỳ kinh doanh: hạn mức quay vòng cho vốn lưu động, thời hạn vay phù hợp với đầu tư và lịch trả nợ gắn với dòng tiền.

Khi ba nền tảng này được củng cố, doanh nghiệp sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định hướng đa dạng hóa nguồn vốn, phát triển cho vay dựa trên dòng tiền, chuỗi cung ứng và hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng. Cụ thể hóa các định hướng này thành quy trình phối hợp thuận tiện sẽ giúp chính sách đáp ứng sát hơn nhu cầu doanh nghiệp. Nguồn lực hỗ trợ cũng ưu tiên các doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, có khả năng tạo giá trị và sử dụng vốn hiệu quả.

- Có quan điểm cho rằng, hỗ trợ DNNVV không nhất thiết chỉ thông qua tín dụng ngân hàng. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

- Thực tế minh chứng trong một số trường hợp, các chính sách hỗ trợ trực tiếp về thuế, phí, đất đai hay thủ tục hành chính có thể thiết thực hơn. Cách tiếp cận này đã được đặt ra khi Chính phủ xây dựng và trình Quốc hội dự thảo Luật Phát triển DNNVV. Việc rà soát, sửa đổi là cần thiết, nhưng cần nhìn từ thực tế để xác định chính sách nào thật sự phát huy tác dụng, chính sách nào còn vướng và cần thay đổi.

Tuy nhiên, hỗ trợ về thủ tục, mặt bằng, công nghệ, tiêu chuẩn và nhân lực cần được lồng ghép theo nhu cầu. Quá trình xây dựng Luật Phát triển DNNVV là cơ hội hoàn thiện chính sách, chú trọng năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Về dài hạn, cần nuôi dưỡng những doanh nghiệp có tiềm năng vươn lên quy mô lớn, hình thành các doanh nghiệp đầu chuỗi, tập đoàn có năng lực cạnh tranh quốc tế. Sự trưởng thành cần dựa trên năng lực cốt lõi, hiệu quả kinh doanh và quản trị tương xứng, với hỗ trợ minh bạch, có thời hạn và đánh giá kết quả.

Khi quản trị, thị trường và tài chính cùng được củng cố, dòng vốn sẽ có thêm cơ sở đến đúng nhu cầu, đúng thời điểm và tạo giá trị thực. Những doanh nghiệp trưởng thành từ nền tảng ấy sẽ góp phần mở rộng chuỗi cung ứng trong nước, tạo việc làm và nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Trân trọng cảm ơn ông! ■

Ngành ngân hàng luôn đồng hành và tạo điều kiện tối đa trong khuôn khổ pháp luật để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, nhất là DNNVV, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của đất nước. Tuy nhiên, sự hỗ trợ từ phía ngân hàng phải vận hành theo cơ chế thị trường bình đẳng, tuyệt đối không phải cơ chế “xin - cho” vốn và dứt khoát không hạ chuẩn tín dụng. Khi những “điểm nghẽn” về cơ chế được tháo gỡ và thị trường vốn phát triển cân bằng, dòng máu tín dụng mới có thể chảy đều khắp các chi mạch của nền kinh tế, đưa con tàu GDP Việt Nam cán đích tăng trưởng 10% trở lên như kỳ vọng”.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước PHẠM ĐỨC ẤN

Minh Phương (thực hiện)

Trong tám tháng đầu năm 2026, doanh số giải ngân cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt hơn 3,8 triệu tỷ đồng và dư nợ đạt hơn 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so với cuối năm 2025. Mặc dù chiếm khoảng 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, quy mô tín dụng này vẫn chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu thực tế của cộng đồng doanh nghiệp đông đảo đóng góp lớn vào GDP. Đánh giá đúng năng lực tiếp cận vốn đòi hỏi phải xem xét toàn diện số lượng đơn vị được thụ hưởng, mức độ đáp ứng cùng hiệu quả vận hành dòng tiền. Sự lệch pha giữa nhu cầu vốn và dòng tín dụng ngân hàng xuất phát chủ yếu từ năng lực nội tại cùng mức độ khả thi của phương án kinh doanh. Theo TS Nguyễn Quang Huy, các chương trình hỗ trợ cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về chiến lược, tài chính, vận hành và nhân sự sát với từng nhóm ngành cụ thể. Việc kết nối giữa địa phương, hiệp hội, tổ chức tư vấn và ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thiện kế hoạch dòng tiền cũng như nâng cao tính khả thi của hồ sơ vay. Minh bạch tài chính phải trở thành nhu cầu tự thân để doanh nghiệp củng cố nền tảng phát triển bền vững. Việc chuẩn hóa công tác kế toán, kiểm soát công nợ và tách bạch tài chính cá nhân tạo nên bộ hồ sơ tín dụng đáng tin cậy trước các định chế tài chính. Khi kết hợp đồng bộ giữa năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tín dụng phù hợp, dòng vốn sẽ được khơi thông hiệu quả, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
amung