Bỏ qua điều hướng

Khung đo mới cho hành trình chuyển đổi kép của doanh nghiệp

Khung đo mới cho hành trình chuyển đổi kép của doanh nghiệp
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh gắn chặt trong sản xuất, kinh doanh, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn khó xác định mình đang ở đâu và cần ưu tiên nguồn lực vào khâu nào. Khung đánh giá vừa được Bộ Tài chính ban hành tạo ra thước đo chung, song hiệu quả phụ thuộc vào chất lượng tự đánh giá và khả năng c...

Ngày 8/9/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2515/QĐ-BTC về Khung đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh dành cho doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khung được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc nhằm phục vụ việc đo lường, tự đánh giá, định vị hiện trạng năng lực và theo dõi quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp theo thời gian.

Việc ban hành khung đánh giá diễn ra trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không còn là hai quá trình tách biệt. Đầu tư công nghệ nếu không gắn với tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, kiểm soát phát thải và nâng cao hiệu quả vận hành có thể chưa tạo ra giá trị bền vững. Ngược lại, các mục tiêu xanh cũng khó được đo lường và quản trị nếu thiếu dữ liệu cùng những công cụ số phù hợp.

Với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn không chỉ nằm ở nhận thức mà còn ở việc lựa chọn điểm bắt đầu. Nguồn lực có hạn, trong khi phạm vi chuyển đổi trải rộng từ chiến lược, nhân sự, quản trị rủi ro đến sản xuất, chuỗi cung ứng, dữ liệu và công nghệ. Thiếu một công cụ định vị có thể khiến doanh nghiệp đầu tư phân tán hoặc chú trọng phần mềm, thiết bị nhưng chưa thay đổi quy trình quản trị.

Tạo thước đo chung cho hai quá trình chuyển đổi

Theo Quyết định số 2515/QĐ-BTC, khung đánh giá hướng tới đo lường, xác định và theo dõi mức độ trưởng thành chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh. Công cụ kết hợp phương pháp định tính và định lượng, giúp doanh nghiệp nhận diện điểm mạnh, điểm hạn chế, từ đó xây dựng lộ trình cải tiến và phân bổ nguồn lực phù hợp.

Đối tượng áp dụng bao gồm tất cả doanh nghiệp tại Việt Nam, trong đó trọng tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khung cũng được sử dụng bởi các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức hiệp hội, tổ chức tư vấn, mạng lưới chuyên gia và đơn vị cung cấp giải pháp chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Khung đánh giá gồm 3 trụ cột, 9 cấu phần, 36 khía cạnh và 62 tiêu chí. Cấu trúc này cho thấy chuyển đổi kép được tiếp cận như một quá trình thay đổi toàn diện, thay vì chỉ đầu tư thêm công nghệ hoặc thực hiện một số hoạt động bảo vệ môi trường.

Trụ cột thứ 1 là Chiến lược và Quản trị doanh nghiệp, tập trung vào quản trị và văn hóa; chiến lược, cam kết và mục tiêu. Các nội dung đánh giá gồm cấu trúc quản trị, quản trị rủi ro, văn hóa và con người, marketing và truyền thông; chiến lược, chỉ số đo lường hiệu quả, chính sách, đầu tư tài chính cho chuyển đổi kép, tiêu chuẩn và chứng nhận.

Cách thiết kế này đặt chuyển đổi trong tổng thể hoạt động quản trị. Nếu thiếu cam kết của lãnh đạo, mục tiêu cụ thể, nguồn lực tài chính và cơ chế theo dõi, việc ứng dụng công nghệ hoặc thực hiện các mục tiêu xanh dễ dừng ở những dự án riêng lẻ.

Trụ cột thứ 2 là Quản lý chuỗi giá trị và vận hành. Phạm vi đánh giá đi từ lựa chọn, đánh giá, tương tác với nhà cung cấp đến quản lý sản phẩm, dịch vụ, nguyên vật liệu, nước, năng lượng, phát thải khí nhà kính và chất thải. Các nội dung về kinh tế tuần hoàn, sản xuất, logistics, kho vận và quản lý khách hàng cũng được đưa vào xem xét.

Trụ cột thứ 3 là Dữ liệu và Công nghệ, bao gồm quản trị công nghệ, kiến trúc công nghệ và ứng dụng, an toàn, bảo mật, kết nối, đổi mới công nghệ; quản trị, thu thập, xử lý dữ liệu; khai thác giá trị từ dữ liệu, công bố thông tin, xác minh và bảo đảm.

Một doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phần mềm nhưng dữ liệu vẫn phân tán, thiếu đồng nhất hoặc chưa phục vụ hiệu quả cho việc ra quyết định. Khi đó, mức độ số hóa chưa đồng nghĩa với mức độ trưởng thành cao. Với chuyển đổi xanh, chất lượng dữ liệu còn quyết định khả năng theo dõi mức tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, phát thải và kiểm chứng thông tin được công bố.

Như vậy, khung không chỉ xem xét doanh nghiệp đang sở hữu công nghệ gì, mà còn đánh giá công nghệ và dữ liệu được quản trị, kết nối và sử dụng như thế nào trong chiến lược, chuỗi giá trị và hoạt động vận hành.

Điểm số phải dẫn tới hành động

Dựa trên câu trả lời của doanh nghiệp, công cụ đưa ra kết quả đánh giá cho từng khía cạnh theo 5 mức độ trưởng thành, trên thang điểm từ 1 đến 5. Điểm trưởng thành của mỗi trụ cột hoặc khía cạnh được tính bằng giá trị trung bình của các điểm thành phần tương ứng với những câu hỏi thuộc trụ cột hoặc khía cạnh đó. Mỗi câu hỏi có 5 phương án trả lời, tương ứng với thang điểm từ 1 đến 5.

Mức 1 - Cơ bản, từ 1 đến dưới 2 điểm, phản ánh doanh nghiệp chưa bắt đầu hành trình chuyển đổi hoặc mới triển khai theo sự vụ.

Mức 2 - Bắt đầu, từ 2 đến dưới 3 điểm, dành cho doanh nghiệp đã xác định cần hành động, xuất phát từ nhận thức nội tại hoặc yêu cầu của pháp luật.

Mức 3 - Chủ động, từ 3 đến dưới 4 điểm, phản ánh doanh nghiệp đã bắt đầu hành động về chuyển đổi và vượt xa yêu cầu quy định cơ bản bắt buộc.

Mức 4 - Nâng cao, từ 4 đến dưới 5 điểm, cho thấy doanh nghiệp đã có chiến lược tích hợp và có nỗ lực đáng kể trong triển khai.

Mức 5 - Tiên tiến và dẫn đầu, tương ứng 5 điểm, dành cho doanh nghiệp tiên phong với các thực hành dẫn đầu trong chuyển đổi.

Điểm đánh giá được tính theo giá trị trung bình của các điểm thành phần tương ứng với câu trả lời của doanh nghiệp. Mỗi câu hỏi có 5 phương án trả lời, tương ứng với thang điểm từ 1 đến 5.

Thang điểm chung giúp lượng hóa một quá trình vốn dễ được mô tả bằng những khái niệm rộng. Thay vì chỉ xác định đã hoặc chưa chuyển đổi, doanh nghiệp có thể nhận diện từng nấc phát triển và theo dõi sự thay đổi qua các kỳ đánh giá. Kết quả cũng giúp nhận ra sự chênh lệch giữa các trụ cột, chẳng hạn công nghệ đã được đầu tư nhưng chiến lược chưa hoàn chỉnh, hoặc dữ liệu đã được thu thập nhưng chưa khai thác hiệu quả.

Tuy nhiên, điểm số chỉ có ý nghĩa khi phản ánh đúng thực trạng. Do khung được sử dụng cho hoạt động tự đánh giá, doanh nghiệp cần dựa trên thông tin, tài liệu và kết quả thực tế, tránh lựa chọn phương án theo cảm nhận hoặc cao hơn năng lực hiện có. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu đầy đủ, kết quả có thể chưa chỉ ra đúng những khoảng trống cần ưu tiên xử lý.

Khung đánh giá cũng là công cụ định vị mức độ trưởng thành, không đồng nghĩa với chứng nhận doanh nghiệp đã hoàn thành chuyển đổi số hoặc đáp ứng toàn bộ tiêu chuẩn xanh. Mục tiêu quan trọng hơn là sử dụng kết quả để xác định thứ tự ưu tiên, xây dựng kế hoạch cải thiện và theo dõi tiến độ.

Quyết định khuyến khích doanh nghiệp chủ động đánh giá định kỳ nhằm nhận diện khoảng cách về năng lực, tối ưu hóa lộ trình vận hành và làm cơ sở tiếp cận chính sách hỗ trợ, nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, “làm cơ sở tiếp cận” không có nghĩa doanh nghiệp đạt một mức điểm nhất định sẽ đương nhiên được hỗ trợ hoặc cấp vốn; điều này còn phụ thuộc vào điều kiện của từng chương trình.

Ở góc độ quản lý, việc áp dụng thống nhất khung đánh giá có thể tạo lập cơ sở dữ liệu về tình hình ứng dụng công nghệ và thực hành xanh của cộng đồng doanh nghiệp. Để phát huy giá trị, dữ liệu cần được cập nhật, phân tích theo quy mô, ngành, lĩnh vực và địa bàn, bởi yêu cầu chuyển đổi của doanh nghiệp sản xuất khác với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ; khả năng đầu tư của doanh nghiệp nhỏ cũng khác doanh nghiệp quy mô lớn.

Theo phân công, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo phổ biến khung đánh giá và lồng ghép việc triển khai với các chương trình, kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp tại địa phương. Các hội, hiệp hội có nhiệm vụ tuyên truyền, tập huấn, vận động doanh nghiệp hội viên chủ động tự đánh giá trên hệ thống trực tuyến; đồng thời tổng hợp phản hồi, kiến nghị để đề xuất điều chỉnh khung phù hợp với đặc thù từng ngành, lĩnh vực.

Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể được giao công bố, hướng dẫn sử dụng, số hóa và tích hợp khung đánh giá trên Cổng thông tin doanh nghiệp; tổ chức thu thập dữ liệu và định kỳ rà soát, cập nhật các tiêu chí, chỉ số thành phần theo thực tiễn.

Khung đánh giá đã tạo ra một thước đo chung để doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng nhìn nhận hành trình chuyển đổi kép. Nhưng để công cụ này thực sự thúc đẩy thay đổi, kết quả đánh giá phải được chuyển thành kế hoạch cụ thể, giúp doanh nghiệp khắc phục những mắt xích yếu, cải tiến quy trình và sử dụng hiệu quả nguồn lực dành cho chuyển đổi.

MINH PHƯƠNG

Ngày 8/9/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2515/QĐ-BTC về Khung đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh dành cho doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Được áp dụng thống nhất trên toàn quốc, khung giúp doanh nghiệp tự đánh giá, xác định hiện trạng năng lực và theo dõi tiến trình chuyển đổi theo thời gian. Đây là thước đo cần thiết khi công nghệ, dữ liệu và quản trị ngày càng gắn chặt với yêu cầu tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, kiểm soát phát thải và nâng cao hiệu quả vận hành. Khung gồm 3 trụ cột, 9 cấu phần, 36 khía cạnh và 62 tiêu chí, kết hợp phương pháp định tính với định lượng để nhận diện điểm mạnh, hạn chế và hỗ trợ phân bổ nguồn lực. Trụ cột Chiến lược và Quản trị doanh nghiệp đánh giá từ cấu trúc quản trị, quản trị rủi ro, văn hóa, con người đến chiến lược, chỉ số hiệu quả, chính sách, tài chính, tiêu chuẩn và chứng nhận. Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng chuyển đổi kép phải được dẫn dắt bằng cam kết lãnh đạo, mục tiêu cụ thể và cơ chế giám sát, thay vì dừng ở các dự án phần mềm, thiết bị hoặc môi trường riêng lẻ. Trụ cột Quản lý chuỗi giá trị và vận hành mở rộng đánh giá từ nhà cung cấp, sản phẩm, dịch vụ đến nguyên vật liệu, nước, năng lượng, khí nhà kính, chất thải, kinh tế tuần hoàn, sản xuất, logistics, kho vận và khách hàng. Phạm vi bao quát giúp doanh nghiệp nhìn rõ tác động của chuyển đổi trên toàn bộ hoạt động, qua đó tránh đầu tư phân tán trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Tuy nhiên, giá trị thực tế của khung phụ thuộc vào chất lượng tự đánh giá và khả năng chuyển kết quả thành lộ trình cải tiến có thứ tự ưu tiên, bởi một bộ tiêu chí chỉ phát huy tác dụng khi dữ liệu đầu vào phản ánh đúng năng lực và quy trình hiện hữu.