Bỏ qua điều hướng
•

Năm 2030 sẽ có 100% giáo viên dạy tiếng dân tộc đạt chuẩn đào tạo

Năm 2030 sẽ có 100% giáo viên dạy tiếng dân tộc đạt chuẩn đào tạo
Nguồn ảnh: VietnamNet

Bộ GD-ĐT cho biết tỷ lệ huy động học sinh dân tộc thiểu số đến lớp đã tiệm cận mức chung cả nước. Tuy nhiên, việc dạy và học tiếng mẹ đẻ vẫn gặp khó do thiếu giáo viên, học liệu và nhu cầu học còn thấp.

Cơ hội học tập ngày càng được mở rộng

Ngày 29/9, Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức hội nghị Sơ kết 2 năm thực hiện Quyết định 1567/QĐ-TTg về tăng cường thực thi Công ước CERD và triển khai các khuyến nghị của Ủy ban CERD.

Trình bày báo cáo về bảo đảm quyền giáo dục và đào tạo của người dân tộc thiểu số, bà Nguyễn Thị Huy, đại diện Cục Hợp tác quốc tế (Bộ GD-ĐT), cho biết quyền này không chỉ nằm ở cơ hội đến trường mà còn ở khả năng duy trì việc học, tiếp cận giáo dục chất lượng và được tôn trọng bản sắc văn hóa.

Theo bà Huy, Luật Giáo dục quy định ưu tiên đầu tư cho giáo dục ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn, cùng các chính sách học bổng, trợ cấp, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và phát triển trường chuyên biệt.

Ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp, chính sách ưu tiên tuyển sinh, cử tuyển và hỗ trợ người học tiếp tục mở cơ hội cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số. Luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 cũng khẳng định chính sách thu hút, đãi ngộ giáo viên công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn.

W-Bộ GD ĐT 01.png
Bà Nguyễn Thị Huy, đại diện Cục Hợp tác quốc tế, Bộ GD-ĐT trình bày tham luận tại hội nghị chiều 29/9

Mạng lưới trường, lớp tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục được củng cố. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và trường dự bị đại học góp phần tạo nguồn, đào tạo nhân lực.

Trong 5 năm gần đây, tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số đến lớp đạt khoảng 98%, so với 99% cả nước. Tỷ lệ học sinh tiểu học dân tộc thiểu số trong độ tuổi ra lớp đạt 97,25% trong khi mức chung toàn quốc 98,31%. Tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt khoảng 98,24% và THPT khoảng 98,16%.

Tuy nhiên, bà Huy cho rằng những kết quả này chưa đồng nghĩa mọi khoảng cách đã được xóa bỏ. Cơ hội học lên THPT, giáo dục nghề nghiệp, đại học, chất lượng giáo dục và khả năng tiếp cận cơ sở vật chất ở một số địa bàn vẫn còn chênh lệch.

Dạy tiếng dân tộc còn nhiều khó khăn

Đại diện Bộ GD-ĐT cho biết thêm, chương trình giáo dục phổ thông 2018 xác định tiếng dân tộc thiểu số là môn tự chọn từ lớp 1 đến lớp 12. Bộ GD-ĐT đã ban hành chương trình cho 8 ngôn ngữ gồm Bahnar, Chăm, Êđê, Jrai, Khmer, Mông, Mnông và Thái; tháng 3/2026 ban hành thêm chương trình tiếng Raglai cấp tiểu học, đồng thời hoàn thiện chương trình tiếng Mường và Cơ Tu.

W-nguyen hue tay nguyen 12 1.jpg
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 xác định tiếng dân tộc thiểu số là môn tự chọn từ lớp 1 đến lớp 12. Ảnh minh họa: Nguyễn Huế 

Giai đoạn 2022-2025, việc dạy tiếng dân tộc thiểu số được duy trì tại 15/34 tỉnh, thành. Số học sinh tăng từ 119.484 lên 132.221 em, với 514 trường và 4.736 lớp. Tiếng Khmer có quy mô lớn nhất, trên 100.000 học sinh, tiếp đến là tiếng Chăm và Êđê. Từ năm học 2025-2026, tiếng Mnông được đưa vào giảng dạy tại Lâm Đồng.

Tuy nhiên, năm học 2024-2025 mới có khoảng 13,87% học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học được học tiếng mẹ đẻ. Việc dạy học còn gặp khó do thiếu giáo viên, chương trình, sách giáo khoa, học liệu chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Một bộ phận phụ huynh ưu tiên ngoại ngữ nên nhu cầu học tiếng dân tộc còn thấp.

Bà Huy cho biết, thời gian tới, Bộ GD-ĐT sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, đầu tư cơ sở vật chất, củng cố trường nội trú, bán trú và nâng cao chất lượng đội ngũ. Với tiếng dân tộc thiểu số, ngành giáo dục sẽ mở rộng chương trình theo nhu cầu, hoàn thiện sách giáo khoa, tài liệu, bồi dưỡng giáo viên và xây dựng học liệu số.

W-Bộ DTTG 015.png
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Đài Thy cho biết trên địa bàn có 21 thành phần dân tộc thiểu số cùng nhiều tôn giáo lớn sinh sống, đoàn kết, hòa thuận

Mục tiêu đến năm 2030 là 100% giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số đạt chuẩn đào tạo, cán bộ quản lý liên quan được bồi dưỡng và sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn được bảo đảm theo kế hoạch sau khi biên soạn.

Bà Huy nhấn mạnh việc học tiếng dân tộc có thể song hành với tiếng Việt, ngoại ngữ và công nghệ. Theo đại diện Bộ GD-ĐT, kết quả sau hai năm thực hiện Quyết định 1567/QĐ-TTg cho thấy nỗ lực bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, nhưng “điều quan trọng hơn các con số là cơ hội mà giáo dục mang lại cho mỗi người học”.

Đối với công tác bảo tồn bản sắc văn hóa, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định tiếng dân tộc thiểu số là môn học tự chọn kéo dài từ lớp 1 đến lớp 12. Giai đoạn 2022-2025 ghi nhận quy mô dạy học tiếng mẹ đẻ duy trì tại 15 tỉnh thành, thu hút 132.221 học sinh tham gia với quy mô lớn nhất thuộc về tiếng Khmer. Ngành giáo dục đã hoàn thiện chương trình cho 8 ngôn ngữ và chuẩn bị đưa thêm các tiếng Raglai, Mường, Cơ Tu cũng như Mnông vào giảng dạy tại các địa phương. Dù đạt nhiều chỉ số phát triển tích cực, thực tế cho thấy cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao và các bậc học sau phổ thông giữa các vùng miền vẫn còn sự chênh lệch đáng kể. Tính riêng năm học 2024-2025, tỷ lệ học sinh tiểu học dân tộc thiểu số được học tiếng mẹ đẻ mới chỉ đạt 13,87%. Việc mở rộng quy mô lớp học hiện gặp rào cản lớn từ tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực giảng dạy, tài liệu học tập chưa đồng bộ và nhu cầu đăng ký học ở một số nơi còn thấp.