Làm rõ nguyên nhân nhập khẩu tăng
Tại tọa đàm “Nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công thương” do Tạp chí Công thương tổ chức ngày 8/10, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 434 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt hơn 453 tỷ USD, tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo. Các nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy móc, điện thoại và linh kiện giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu. Ở chiều nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%.
Cơ cấu này cho thấy nhập khẩu chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất, mở rộng công suất và đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là những nguồn lực đầu vào đó được sử dụng như thế nào, có tạo ra năng lực sản xuất mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị được giữ lại trong nước hay không.
Theo ông Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, hoạt động xuất nhập khẩu cần được nhìn nhận trong tổng thể mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, gắn với quá trình hội nhập, thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và yêu cầu gia tăng giá trị trong nước. Bên cạnh quy mô và cán cân thương mại, cần quan tâm đến tác động của các dòng thương mại đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các cân đối của nền kinh tế.
Thực tế, nhập khẩu tăng không đồng nghĩa với việc năng lực sản xuất trong nước suy giảm. Khi doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện để mở rộng nhà máy, đổi mới công nghệ, nhập khẩu có thể trở thành động lực cho những chu kỳ sản xuất và xuất khẩu tiếp theo. Vì vậy, đánh giá chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu cần đi sâu vào cơ cấu hàng hóa, mục đích sử dụng và hiệu quả của các nguồn lực nhập khẩu, thay vì chỉ nhìn vào trạng thái xuất siêu hay nhập siêu tại một thời điểm.
Phân tích diễn biến nhập khẩu của ngành điện tử, bà Trịnh Thị Thu Hiền cho rằng cần xem xét cụ thể từng ngành hàng để nhận diện đúng nguyên nhân. Theo bà, có ba yếu tố đáng chú ý gồm giá nguyên liệu đầu vào tăng, doanh nghiệp gia tăng dự trữ hàng tồn kho và các chuỗi sản xuất mở rộng công suất. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, giá một số vi mạch, chip và ổ cứng SSD phục vụ sản xuất hàng điện tử có thể tăng từ 300-500%. Vì vậy, ngay cả khi số lượng linh kiện nhập khẩu không tăng, trị giá nhập khẩu vẫn có thể tăng mạnh do biến động giá.
Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm nguyên liệu đầu vào khiến một số doanh nghiệp chủ động nâng mức dự trữ để bảo đảm hoạt động sản xuất. Theo thông tin được Cục Xuất nhập khẩu ghi nhận qua làm việc với một số doanh nghiệp điện tử và sản xuất máy tính, có doanh nghiệp đã dự trữ hàng tồn kho đến tháng 3/2027. Chu kỳ dự trữ tại một số trường hợp tăng từ 6 tuần lên 12 tuần.
Theo lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu, những yếu tố này cho thấy cần nhìn sâu vào bản chất của dòng nhập khẩu. Sự gia tăng kim ngạch có thể phản ánh biến động giá, nhu cầu dự trữ nguyên liệu hoặc quá trình hình thành năng lực sản xuất mới. Do đó, không thể chỉ dựa vào chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu để đánh giá đầy đủ hiệu quả hoạt động thương mại. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải bảo đảm quá trình mở rộng sản xuất tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế, đồng thời tăng khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết với doanh nghiệp FDI
Theo ông Phan Đức Hiếu, yêu cầu quan trọng đối với hoạt động xuất nhập khẩu là gia tăng giá trị, đặc biệt đối với doanh nghiệp trong nước. Muốn vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần kết nối nhiều hơn với chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và từng bước tham gia trực tiếp vào những hoạt động có giá trị cao hơn. Ông cho rằng các chủ trương, định hướng và giải pháp đã khá rõ, vấn đề quan trọng là chuyển thành kết quả thực tiễn. Bên cạnh hoàn thiện khung chính sách, cần có những chương trình cụ thể để kết nối doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất.
Từ thực tiễn ngành điện tử, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, cho rằng muốn nâng cao giá trị gia tăng, doanh nghiệp không thể chỉ tập trung vào các công đoạn có biên lợi nhuận thấp. Việc đầu tư vào tự động hóa, số hóa, trí tuệ nhân tạo, thiết kế sản phẩm, quản trị dữ liệu, kiểm soát chất lượng và nghiên cứu phát triển là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, tạo ra sản phẩm mới.
Cùng với đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ là yêu cầu cấp thiết. Khi trong nước chưa sản xuất được các linh kiện, vật liệu, khuôn mẫu, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật cần thiết, quy mô sản xuất càng tăng thì nhu cầu nhập khẩu đầu vào càng lớn. Vì vậy, cần hình thành hệ sinh thái nhà cung ứng trong nước, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các chuỗi sản xuất.
Bà Hương đánh giá, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2030 được Chính phủ phê duyệt là định hướng quan trọng nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh yêu cầu về giá cả và chất lượng, doanh nghiệp còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, hóa chất, lao động và quản trị môi trường, xã hội. Công nghiệp hỗ trợ vì vậy không chỉ cần sản xuất được linh kiện mà còn phải bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu xanh và duy trì khả năng đổi mới.
Thực tế tại Quảng Ninh cho thấy những điểm nghẽn này vẫn hiện hữu. Ông Lê Hồng Giang, Phó Giám đốc Sở Công thương Quảng Ninh, cho biết năng lực của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về quy mô, công nghệ và khả năng kinh doanh, trong khi yêu cầu của chuỗi cung ứng ngày càng cao. Khả năng cung ứng tại chỗ chưa tương xứng với nhu cầu của doanh nghiệp FDI, khiến một phần đáng kể nguyên liệu, linh kiện và các đầu vào phục vụ sản xuất vẫn phải nhập khẩu.
Mặc dù địa phương thu hút được nhiều dự án FDI, hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và phát triển nhà cung cấp nội địa chưa đạt như kỳ vọng. Điều này đặt ra yêu cầu phải gắn thu hút đầu tư với phát triển doanh nghiệp trong nước, để dòng vốn đầu tư không chỉ làm tăng quy mô sản xuất mà còn góp phần hình thành năng lực cung ứng mới.
Để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, bà Trịnh Thị Thu Hiền cho biết Bộ Công thương đang xây dựng, hoàn thiện và triển khai các nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, phát triển thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp.
Cùng với mở rộng thị trường, doanh nghiệp cần khai thác tốt hơn các thị trường hiện có, phát huy lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do. Muốn hưởng ưu đãi thuế quan, hàng hóa phải đáp ứng quy tắc xuất xứ, đòi hỏi doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, cần đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần đi vào thực chất, không chỉ cung cấp thông tin thị trường mà còn tháo gỡ những vướng mắc trong sản xuất và xuất nhập khẩu. Về lâu dài, yếu tố quyết định vẫn là nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới dây chuyền, thiết bị và tăng tính chủ động của ngành sản xuất trong nước.
Ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh, về dài hạn, cần phát triển những chuỗi giá trị do doanh nghiệp Việt Nam dẫn dắt, với các doanh nghiệp đủ năng lực đứng đầu chuỗi, vươn ra thị trường nước ngoài và kéo theo mạng lưới doanh nghiệp trong nước cùng tham gia. Đồng thời, phải bảo đảm minh bạch về xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển.
Trong tiến trình tái cơ cấu ngành Công thương, mở rộng xuất nhập khẩu cần đi cùng nâng cao năng lực sản xuất và gia tăng giá trị nội địa. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện sẽ phát huy hiệu quả cao hơn khi được chuyển hóa thành công nghệ, năng suất, sản phẩm mới và năng lực cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam.
Khi công nghiệp hỗ trợ phát triển, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI được củng cố, nguồn lực nhập khẩu sẽ không chỉ phục vụ mở rộng sản xuất mà còn góp phần tạo dựng nền tảng cho những chu kỳ tăng trưởng mới. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, từng bước gia tăng giá trị tạo ra trong nước và thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững.
Nguyễn Thị Kim Dung