Bỏ qua điều hướng
•

Nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc nguồn vốn nào?

Nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc nguồn vốn nào?
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số có thể lên tới 300 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Trong khi tín dụng ngân hàng vẫn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, đ...

Nhu cầu vốn 280-300 tỷ USD/năm

Tại hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” ngày 22/10, TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV - cho biết, nhu cầu vốn cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế là rất lớn. Theo tính toán, trong giai đoạn 2026-2030, vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng bình quân 13-15%/năm, tương đương khoảng 280-300 tỷ USD/năm.

Quy mô nhu cầu vốn này đặt ra yêu cầu không chỉ huy động đủ nguồn lực mà còn phải thay đổi cơ cấu dẫn vốn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế.

luc.jpg
TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV. Ảnh: PT.

Theo TS. Cấn Văn Lực, trong giai đoạn 2020 đến hết 9/2026, vốn ngân hàng vẫn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, thị trường vốn, bao gồm cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, mới chiếm khoảng 14-15%. Nếu tính thêm trái phiếu Chính phủ, tỷ trọng này cũng chỉ đạt khoảng 23-24%.

“Thông thường, trong mô hình phát triển hướng tới sự bền vững, thị trường vốn cần chiếm khoảng 30% trở lên, nhằm giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng”, ông Lực nhấn mạnh.

Ông Lực cho biết, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng sẽ tạo áp lực lớn lên khả năng huy động vốn, quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Cần khơi thông các nguồn vốn mới

Để tăng trưởng kinh tế hai con số, chuyên gia kinh tế Phùng Tiến Đông cho rằng, cần phát huy vai trò bổ trợ giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Hai kênh dẫn vốn cần được vận hành đồng bộ, phù hợp với từng giai đoạn trong đời của dự án.

Theo ông Đông, muốn thị trường vốn phát triển bền vững, Việt Nam cần xây dựng nền tảng nhà đầu tư dài hạn, đặc biệt là các quỹ đầu tư. Một thị trường vốn hiệu quả phải có nguồn cung hàng hóa chất lượng, dòng vốn đầu tư ổn định và lực cầu đủ lớn. Nếu thiếu những yếu tố này, việc mở rộng quy mô phát hành chưa chắc đã tạo ra một kênh dẫn vốn thực sự bền vững cho doanh nghiệp.

Ở góc độ chính sách, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, Việt Nam cần thúc đẩy đồng thời nhiều kênh huy động vốn, từ thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp đến tài chính xanh, tài chính khí hậu, các quỹ tài chính ngoài ngân sách.

tc.jpg
Chuyên gia trao đổi tại hội thảo ngày 22/10.

Về định hướng dài hạn, Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045, được ban hành theo Quyết định 1413 ngày 27/7/2026, đặt mục tiêu nâng giá trị huy động vốn qua thị trường vốn lên 28-30% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội vào năm 2030 và 30-35% vào năm 2045. Thị trường vốn cũng được định hướng đáp ứng 60-65% nhu cầu vay của Chính phủ thông qua trái phiếu Chính phủ.

Theo TS. Cấn Văn Lực, bên cạnh mở rộng quy mô thị trường, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, tăng tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. Đây là những điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin thị trường, thu hút dòng vốn dài hạn và nâng cao khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam ước tính cần tăng bình quân 13-15% mỗi năm, tương đương 280-300 tỷ USD mỗi năm. Quy mô vốn khổng lồ này đòi hỏi nền kinh tế phải khẩn trương cơ cấu lại hệ thống dẫn vốn nhằm giảm bớt sự lệ thuộc quá mức vào các ngân hàng thương mại. Thực tế giai đoạn 2020 đến hết tháng 9/2026 ghi nhận nguồn vốn ngân hàng vẫn chiếm hơn 50% tổng cung vốn của toàn nền kinh tế. Trong khi đó, thị trường vốn gồm cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ đóng góp khoảng 14-15%, hoặc đạt 23-24% nếu tính cả trái phiếu Chính phủ. Tỷ trọng này cách xa mức chuẩn bền vững tối thiểu 30%, từ đó tạo áp lực rất lớn lên thanh khoản, khả năng quản trị rủi ro và an toàn của hệ thống ngân hàng. Nhằm khơi thông nguồn lực, các chuyên gia khuyến nghị phát huy vai trò bổ trợ nhịp nhàng giữa tín dụng và thị trường vốn, đặc biệt là kênh trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư dài hạn. Song song đó, việc đa dạng hóa thêm tài chính xanh, tài chính khí hậu cùng các quỹ ngoài ngân sách sẽ tạo chân kiềng vững chắc cho các dự án phát triển. Theo Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 ban hành ngày 27/7/2026, thị trường vốn được định hướng nâng tỷ trọng huy động lên 28-30% vào năm 2030 và 30-35% vào năm 2045. Đi đôi với mục tiêu tăng quy mô, việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao chuẩn mực quản trị và minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để bảo vệ nhà đầu tư và xây dựng thị trường bền vững.
amung