Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, tháng 9/2026, xuất khẩu rau quả đạt hơn 1,1 tỷ USD, giảm 15,1% so cùng kỳ năm 2025. Dù vậy, đây là tháng thứ ba liên tiếp kim ngạch xuất khẩu rau quả vượt mốc 1 tỷ USD. Xuất khẩu rau quả tháng 7 đạt khoảng 1,12 tỷ USD và tháng 8 đạt 1,37 tỷ USD. Lũy kế chín tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt gần 7,3 tỷ USD, tăng 18,5% so cùng kỳ năm trước.
Nâng chất để mở rộng thị trường
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, đà tăng của ngành thời gian qua đến từ sự đóng góp của nhiều nhóm hàng, gồm dừa, thanh long, chanh leo,... cùng các sản phẩm rau quả chế biến.
Sầu riêng tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của xuất khẩu rau quả. Loại quả này bước vào chính vụ trong bối cảnh nhu cầu tại Trung Quốc và một số thị trường khác vẫn tích cực. Nguồn cung từ Thái Lan và Malaysia giảm vào một số thời điểm cũng tạo thêm cơ hội cho sầu riêng Việt Nam.
Trung Quốc hiện chiếm gần 58% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam, trong khi xuất khẩu sang Mỹ tăng 60%, đạt 363 triệu USD; Nhật Bản tăng 21%; Hà Lan tăng 39% và Malaysia tăng 67%.
“Diễn biến này cho thấy rau quả Việt Nam đang từng bước mở rộng thị trường, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống”, ông Nguyên cho biết.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Vina T&T Group (chuyên xuất khẩu trái cây) cho biết, việc mở rộng thị trường cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp đang tăng đầu tư cho vùng nguyên liệu, bảo quản, đóng gói và xử lý sau thu hoạch để đáp ứng yêu cầu riêng của từng thị trường.
Giữa tháng 4/2026, Vina T&T Group xuất khẩu lô bưởi da xanh Vĩnh Long đầu tiên sang Australia. Để đưa sản phẩm vào thị trường này, doanh nghiệp kiểm soát từ vùng trồng, truy xuất nguồn gốc đến sơ chế, đóng gói và xử lý sau thu hoạch, nhằm bảo đảm chất lượng trong suốt quá trình vận chuyển.
Với dừa tươi, doanh nghiệp cũng tập trung cải thiện khâu bảo quản. Thời gian bảo quản hiện được kéo dài lên khoảng 70-80 ngày, điều kiện cần để dừa có thể vận chuyển bằng đường biển tới các thị trường ở xa.
“Việc đầu tư vào bảo quản, vùng nguyên liệu và xử lý sau thu hoạch đang giúp doanh nghiệp chủ động hơn khi tiếp cận các đơn hàng mới. Với những sản phẩm tươi, kiểm soát tốt các khâu này cũng là cơ sở để duy trì chất lượng khi hàng đi xa và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các đối tác”, ông Tùng nêu rõ.
Triển vọng xuất khẩu rau quả trong những tháng cuối năm tiếp tục được đánh giá tích cực. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), tháng 10 vẫn là thời điểm sầu riêng tại Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai vào chính vụ (vụ sầu riêng mùa hè của Thái Lan đã kết thúc). Dự kiến, riêng mặt hàng sầu riêng có thể đóng góp thêm khoảng 1,5-2 tỷ USD vào kim ngạch xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Không chỉ sầu riêng, nhu cầu rau quả tại nhiều thị trường châu Á cũng thường tăng trong quý IV để phục vụ các dịp lễ, Tết. Tại Trung Quốc và khu vực Đông Bắc Á, nhu cầu đối với thanh long, dừa tươi, bưởi,... cùng nhiều loại trái cây nhiệt đới được kỳ vọng tiếp tục lên cao.
Các sản phẩm sấy khô, cấp đông nhanh và nước ép hiện chiếm hơn 30% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả. Đây là phân khúc giúp doanh nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu trong thời điểm thu hoạch cao điểm, đồng thời kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm.
Duy trì đà tăng trưởng
Ngành rau quả đang đứng trước cơ hội tiến tới mốc 10 tỷ USD trong năm nay. Khoảng cách còn lại có thể được bù đắp trong quý IV nếu nguồn cung sầu riêng, nhu cầu thị trường và đơn hàng từ các nhóm hàng chủ lực tiếp tục duy trì thuận lợi. Kết quả xuất khẩu hơn 1 tỷ USD mỗi tháng trong ba tháng gần đây cũng cho thấy dư địa để ngành tiếp tục tăng tốc.
Tuy nhiên, ngành rau quả vẫn đối mặt những hạn chế về chất lượng, tỷ lệ đồng nhất và dư lượng chất cấm trên một số sản phẩm. Hệ thống truy xuất nguồn gốc chưa hoàn chỉnh; công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói cùng hoạt động kiểm nghiệm, giám định, cấp chứng nhận còn những bất cập, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả xuất khẩu.
Các thị trường nhập khẩu, trong đó có Trung Quốc, ngày càng tăng cường kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thông quan và duy trì đơn hàng của doanh nghiệp.
Theo đại diện Hiệp hội Rau quả Việt Nam, các doanh nghiệp cần kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc chặt chẽ hơn, đồng thời gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến để duy trì xuất khẩu ổn định. Việc chuyển từ tăng sản lượng sang nâng cao chất lượng cũng ngày càng quan trọng khi rau quả Việt Nam mở rộng sang những thị trường có tiêu chuẩn cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Ở góc độ thị trường, nhóm sản phẩm chế biến còn giúp giảm áp lực tiêu thụ khi nhiều loại trái cây bước vào chính vụ cùng thời điểm. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu tươi, doanh nghiệp có thể đưa nguyên liệu vào chế biến để kéo dài vòng đời sản phẩm và gia tăng giá trị.
Từ phía cơ quan quản lý, Bộ Công thương xác định đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và tăng cường xúc tiến thương mại là những giải pháp trọng tâm trong năm 2026. Bộ sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến và chính sách nhập khẩu của các thị trường, qua đó cung cấp thông tin, cảnh báo sớm và hỗ trợ doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch xuất khẩu.
Với rau quả, việc mở rộng đầu ra được đặt song song với tăng kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp Việt Nam và các nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối tại nước ngoài. Hệ thống Thương vụ Việt Nam ở các thị trường được giao tăng cường tìm kiếm đối tác, cung cấp thông tin và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các kênh phân phối mới. Riêng tại Trung Quốc, Bộ Công thương đã triển khai các chương trình giao thương, kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối tại nhiều địa phương của nước này.
Cùng với mở rộng thị trường, Bộ Công thương cũng chú trọng cảnh báo sớm các rào cản thương mại, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn nhập khẩu, giúp doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn trước khi đưa hàng vào thị trường. Bộ đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan trong kiểm soát chất lượng, kiểm dịch và các yêu cầu kỹ thuật đối với nông sản xuất khẩu, hạn chế nguy cơ hàng bị cảnh báo, trả về hoặc tạm dừng nhập khẩu.
Đối với những mặt hàng tươi như rau quả, chi phí và thời gian vận chuyển cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh. Vì vậy, việc nâng hiệu quả logistics, kết nối chuỗi cung ứng và tạo thuận lợi thương mại tiếp tục được Bộ Công thương đặt trong nhóm giải pháp hỗ trợ xuất khẩu. Đây là cơ sở để doanh nghiệp giảm chi phí, hạn chế rủi ro trong quá trình vận chuyển và nâng khả năng đáp ứng các đơn hàng ở thị trường xa.
Như vậy, cùng với việc nâng chất lượng và tổ chức lại vùng nguyên liệu, hướng đi của ngành rau quả trong giai đoạn tới sẽ là mở rộng thị trường, đi sâu hơn vào các hệ thống phân phối và tăng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Đây cũng là nền tảng để ngành tiến gần hơn tới mục tiêu 10 tỷ USD và tạo dư địa cho tăng trưởng trong những năm tiếp theo.
Gia Hưng