Tại Việt Nam, Chương trình đối tác hành động carbon xanh dương (NBCAP) là nền tảng hợp tác đa bên giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chương trình Phát triển LHQ (UNDP), Đại sứ quán Anh và Tổ chức Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), nhằm bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển ứng phó BĐKH. Theo Tiến sĩ Trịnh Thái Hà, Quản lý Ban thư ký NBCAP thuộc UNDP Việt Nam, việc triển khai NBCAP tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về hoàn thiện bộ máy tổ chức và thể chế, cũng như xây dựng các báo cáo nền tảng và lộ trình và tiến hành nhiều hoạt động đối thoại chính sách và hợp tác kỹ thuật.
Tuy nhiên, các sáng kiến về rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, bãi triều… hiện còn bị chia cắt giữa nhiều chương trình, lĩnh vực và cơ quan quản lý khác nhau. Việc chuyển hóa từ ý tưởng bảo tồn thành dự án thực tế có khả năng thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân còn khó khăn, đồng thời thiếu những cơ chế tài chính phù hợp và năng lực chuẩn bị dự án quy mô lớn để kết nối với các định chế tài chính toàn cầu. Việc ra mắt NBCAP Việt Nam vào tháng 5 vừa qua từng bước chuyển từ giai đoạn hình thành quan hệ đối tác sang xây dựng nền tảng hợp tác có cơ chế tổ chức và định hướng triển khai rõ ràng hơn.
Tại lễ công bố Dự thảo lộ trình hành động quốc gia về carbon xanh dương ngày 23/9 tại Hà Nội, Tiến sĩ Vũ Đức Đam Quang, Phó trưởng nhóm thường trực, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ: “Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia về carbon xanh dương là kết quả của quá trình nghiên cứu, phối hợp và tham vấn, tạo khung định hướng chung để các bên xác định ưu tiên trong bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái carbon xanh dương, đóng góp cho các mục tiêu khí hậu, đa dạng sinh học, khả năng chống chịu ven biển và sinh kế bền vững”.
Theo đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị của lộ trình không chỉ ở việc xác định định hướng, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển các định hướng đó thành hành động. Thời gian tới, cần cụ thể hóa các ưu tiên của lộ trình thành các nhiệm vụ, dự án khả thi, xác định rõ điều kiện về chính sách, dữ liệu, khoa học, công nghệ và tài chính, làm cơ sở để kết nối các sáng kiến, xác định khoảng trống và hình thành danh mục cơ hội cho giai đoạn tới. “Câu hỏi tiếp theo là làm thế nào để thực hiện và huy động nguồn lực ở đâu. Việc huy động nguồn lực không thể chỉ xem xét từ góc độ tài chính, mà còn phụ thuộc chất lượng môi trường chính sách, cơ sở dữ liệu, phương pháp đo đạc, báo cáo, thẩm định, tính khả thi của dự án và khả năng tạo ra giá trị về khí hậu, đa dạng sinh học, sinh kế”, ông Quang nhấn mạnh.
Cố vấn Chiến lược quốc tế của NBCAP, ông Stuart Green nhận định, dù tiềm năng của các hệ sinh thái ven biển rất lớn, tài chính cho carbon xanh dương tại các quốc gia Đông Nam Á vẫn chưa đạt đến quy mô thương mại rộng lớn. Quá trình triển khai ở một số quốc gia mới chỉ ở giai đoạn định hình khung chính sách và thử nghiệm công cụ tài chính. Chẳng hạn, tại Indonesia, về nguồn vốn thực tế, quốc gia này đã huy động được khoảng 150 triệu USD năm 2023 thông qua trái phiếu chính phủ dành riêng cho các dự án carbon xanh dương. Tương tự, Philippines đã công bố một khung thiết kế tài chính với 23 công cụ tài chính khác nhau, bước tiếp theo là tính toán chi phí chi tiết cho từng công cụ.
Từ thực tiễn triển khai tại khu vực, ông Stuart Green gợi ý một số kinh nghiệm có thể giúp Việt Nam định hình cơ chế cấp vốn và lộ trình triển khai hiệu quả. Theo chuyên gia, cần xác lập tính rõ ràng về pháp lý trước khi tìm kiếm nguồn vốn. Tại Indonesia và Philippines, sự chồng chéo về thẩm quyền quản lý giữa các bộ, ngành đang là rào cản lớn. Thí dụ ở Indonesia, cơ quan chủ quản về biển nắm thẩm quyền giao dịch, trong khi ngành lâm nghiệp thực hiện kiểm kê rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển hoàn toàn bị bỏ ngỏ do chưa có đơn vị nào đứng ra kiểm kê.
Theo khuyến nghị từ chuyên gia NBCAP, để thu hút nhà đầu tư và các đối tác tài chính quốc tế, Việt Nam cần giải quyết một số câu hỏi trọng tâm như xây dựng các dự án giai đoạn đầu đã tính toán rõ chi phí, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ bằng cách kết hợp nhiều nguồn vốn và kênh vốn thường trực, minh định quyền sở hữu tín chỉ trước khi tham gia giao dịch và ươm tạo ở quy mô nhỏ trước khi mở rộng bộ máy quản trị và nguồn vốn.
Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng đại diện Thường trú UNDP Việt Nam đánh giá cao sáng kiến NBCAP là một nền tảng do các cơ quan Chính phủ Việt Nam làm chủ trì. Kể từ khi thành lập, NBCAP đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng nền tảng hoạt động, song hiện nay, câu hỏi cốt lõi là làm thế nào để chuyển từ ý tưởng sang hành động thực tế, và từ triển khai thực tế sang thu hút đầu tư ở quy mô lớn. Nhấn mạnh lộ trình hành động cần đóng vai trò là khung tham chiếu quốc gia để bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ, bà Nardini cho biết, carbon xanh ngày càng thu hút sự quan tâm của các đối tác phát triển, quỹ khí hậu, tổ chức tài chính và khu vực tư nhân, nhu cầu bảo đảm sự hài hòa giữa các khoản đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật với các ưu tiên quốc gia trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Các hệ sinh thái carbon xanh đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ carbon, đồng thời mang lại nhiều lợi ích đa dạng như thích ứng với BĐKH, giảm rủi ro thiên tai, nâng cao năng suất nuôi trồng thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho cộng đồng ven biển. NBCAP có thể đóng vai trò xúc tác, là nền tảng cho sự phối hợp và hợp tác chính sách, khoa học, tài chính và khâu triển khai cũng như thúc đẩy trao đổi, học hỏi và hỗ trợ huy động nguồn lực cho các ưu tiên chung. “Để hiện thực hóa những lợi ích này trên quy mô lớn, chúng ta cần vượt qua cách tiếp cận triển khai từng dự án riêng lẻ và bắt đầu xây dựng danh mục các sáng kiến có khả năng thu hút đầu tư, bao gồm nguồn vốn công, tài chính khí hậu và sự tham gia của khu vực tư nhân… Chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác để biến mục tiêu về carbon xanh của Việt Nam thành những hành động có sự phối hợp, dựa trên cơ sở khoa học và có khả năng thu hút đầu tư”, đại diện UNDP chia sẻ.
San Lê