Vừa kết thúc cuộc gọi nhóm hai tiếng trên mạng xã hội, nhận hàng chục lượt thích cho bức ảnh mới đăng, Quân vẫn nguyên cảm giác trống rỗng. Làm việc từ xa toàn thời gian, chàng trai hiếm khi bước chân ra ngoài. Mọi nhu cầu từ ăn uống đến giải trí đều gói gọn sau những cú chạm màn hình.
"Nói cười cả buổi với bao nhiêu người, nhưng tắt máy đi lại thấy chẳng ai thực sự biết mình đang sống thế nào", Quân nói.
Cùng chung tâm trạng chông chênh, Thu Trang, 24 tuổi, nhân viên truyền thông tại TP HCM, lại là hình mẫu năng động trên mạng xã hội với hàng nghìn người theo dõi. Cô liên tục cập nhật những khoảnh khắc check-in sang chảnh, gặp gỡ đối tác và tiệc tùng cuối tuần.
Đằng sau bức ảnh hoàn hảo đó, cô luôn phải gồng mình vui vẻ. Khi nhìn vào danh bạ hàng nghìn liên lạc, Trang thở dài: "Nhiều người theo dõi để làm gì, khi lúc muốn khóc nhất lại không biết bấm gọi cho ai?".
Thạc sĩ Tâm lý lâm sàng Vương Nguyễn Toàn Thiện, Giám đốc chuyên môn Trung tâm Tham vấn và trị liệu tâm lý Lumos, nhận định Quân và Trang là lát cắt điển hình của người trẻ hiện nay: siêu kết nối trên mạng nhưng đứt gãy ngoài đời thực. Lối sống khép kín này khiến giới chuyên gia lo ngại về nguy cơ trầm cảm, rối loạn lo âu và suy giảm miễn dịch.
Chuyên gia lý giải cô đơn thường được gọi là "dịch bệnh" để mô tả một vấn đề sức khỏe cộng đồng đang tăng, chứ không phải bệnh lý tâm thần độc lập. Về mặt chuyên môn, cần phân biệt hai khái niệm: cô đơn và cô lập xã hội. Cô đơn là cảm nhận chủ quan khi các mối quan hệ thiếu hụt về số lượng hoặc chất lượng. Một người có thể có hàng trăm bạn trên mạng nhưng vẫn cô đơn; ngược lại, người sống một mình nhưng có quan hệ sâu sắc thì không hề cô đơn.
Một thiếu niên đang sử dụng điện thoại. Ảnh: Pexel
Báo cáo năm 2025 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chỉ ra khoảng 1/6 dân số thế giới trải qua sự cô đơn. Trong đó, thanh thiếu niên chiếm 21% và người trẻ chiếm 17%. Theo WHO, cô đơn ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất lẫn tâm thần, và cần được xem là vấn đề y tế công cộng.
Điều đáng ngại là cảm giác này xuất hiện ngay cả ở người đang đi học, đi làm bình thường. Do đó, cộng đồng cần quan tâm không chỉ những người hoàn toàn cô lập, mà cả những người có nhiều tương tác nhưng thiếu cảm giác được thấu hiểu, thiếu chỗ dựa an toàn để là chính mình.
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu bước đầu ghi nhận mối liên hệ giữa sự cô đơn, mạng xã hội và sức khỏe tâm thần người trẻ. Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý chưa nên đưa ra tỷ lệ phần trăm cụ thể khi chưa có khảo sát dịch tễ học quốc gia chuẩn hóa.
Điều đáng báo động không phải việc thỉnh thoảng thấy cô đơn, mà là khi cảm xúc này kéo dài, trở thành trạng thái nền và làm méo mó cách người trẻ nhìn nhận bản thân cùng xã hội.
Tiến sĩ tâm lý Elias Aboujaoude thuộc Đại học Stanford (Mỹ) cho rằng Internet mang lại tri thức và kết nối vô tận. Tuy nhiên, khi dồn quá nhiều năng lượng vào thế giới ảo, quan hệ thực tế bị bỏ quên.
Nỗi cô đơn vốn tồn tại từ lâu trước khi có nút "like" hay người theo dõi. Nó bắt nguồn từ tính khí, biến cố sống hay sự mất mát. Nhưng công nghệ số đã làm giảm sức chịu đựng sự đơn độc của con người và đẩy kỳ vọng kết nối lên quá cao.
Giáo sư Susan Matt từ Đại học Weber State (Mỹ) chỉ ra rằng trước kỷ nguyên số, con người không phải liên tục thấy ảnh kỳ nghỉ xa hoa hay cuộc sống lung linh của người khác. Sự phơi bày liên tục này tạo ra tâm lý ghen tỵ và sợ bị bỏ lại (FOMO).
Công nghệ từng chứng minh giá trị kết nối trong những lúc khó khăn, nhưng mặt trái của nó là gây xao nhãng, chiếm dụng thời gian và làm người dùng quên đi sự thiếu hụt tương tác đời thực.
Theo Thạc sĩ Thiện, sự đứt gãy giữa kỹ thuật số và thấu cảm bắt nguồn từ ba cơ chế:
Thứ nhất là chú ý bị phân mảnh. Khi vừa trò chuyện vừa lướt mạng, con người mất đi sự hiện diện tâm lý. Họ có thể nghe những lời nói của đối phương, nhưng không thực sự "ở đó" để cảm nhận được sâu sắc. Điều này làm suy giảm chất lượng tương tác một cách đáng kể.
Tiếp theo là áp lực so sánh xã hội. Những hình ảnh hoàn hảo trên mạng khiến người trẻ ngộ nhận rằng chỉ mình sống thất bại, chỉ mình đang mắc kẹt. Khi so sánh cuộc sống của mình với "phiên bản lý tưởng" của người khác, sự tự tin bị suy yếu từng ngày.
Cuối cùng, công nghệ đang thay thế thay vì bổ sung cho trải nghiệm sống. Người trẻ có vô số liên lạc nhưng hoàn toàn thiếu sự gắn kết thân mật. Một cuộc gọi video không bao giờ thay thế được việc cùng nhau ngồi uống cà phê hay ôm nhau khi buồn.
Đồng thời, mạng xã hội cũng mang lại những lợi ích không thể phủ nhận. Những người trẻ có thể tìm thấy cộng đồng, sự hỗ trợ và cơ hội kết nối với những người cùng chí hướng dù ở bất kỳ đâu trên thế giới. Các nền tảng này đã giúp các nhóm thiểu số, những người bị cô lập địa lý hoặc xã hội tìm thấy tiếng nói của họ. Vấn đề không phải mạng xã hội tự nó là xấu, mà là cách sử dụng nó – khi nó trở thành thay thế cho cuộc sống ngoài đời thực thay vì bổ sung cho nó.
Người trẻ ngày nay thường nhiều bạn bè trên mạng xã hội nhưng lại mất kết nối đời thực. Ảnh: Fatherly
Ranh giới giữa việc tận hưởng không gian riêng và sự cô đơn mòn mỏi nằm ở tính chủ động. Một người thích ở một mình để đọc sách, uống cà phê hay du lịch nhằm tái tạo năng lượng, và vẫn sẵn sàng kết nối khi muốn, là người có sự độc lập tích cực.
Ngược lại, điều đáng lo là khi một người khao khát kết nối nhưng sợ bị từ chối, sợ phán xét nên tự giam mình. Người trẻ có thể tự hỏi: Bản thân đang chọn ở một mình hay đang né tránh? Sau thời gian đó có cảm thấy hồi phục hay trống rỗng hơn? Và lúc khủng hoảng có ai để cậy nhờ không?
Không có số ngày hay số giờ cố định để chẩn đoán bệnh lý, nhưng cần chú ý khi chức năng sống suy giảm rõ rệt. Các dấu hiệu gồm: thu mình, cắt đứt quan hệ đời thực, mất hứng thú với sở thích cũ, buồn bã kéo dài và hành vi tự cô lập. Đi kèm với đó là lo âu cực độ khi tiếp xúc xã hội, mất ngủ, rối loạn ăn uống, sa sút hiệu suất làm việc và lạm dụng mạng xã hội hay chất kích thích.
Đặc biệt, khi xuất hiện ý nghĩ tự hại, muốn chết hoặc không thể tự chăm sóc, vấn đề không thể giải quyết bằng lời khuyên sáo rỗng như "hãy ra ngoài giao lưu". Lúc này, người bệnh cần can thiệp y tế khẩn cấp và không được ở một mình. Chuyên gia cũng cảnh báo cô đơn kéo dài có liên hệ mật thiết với bệnh tim mạch, tiểu đường, suy giảm miễn dịch và mất trí nhớ, đe dọa trực tiếp tuổi thọ.
Để cải thiện tình hình, chuyên gia khuyên người trẻ không nên "cắt đứt" Internet đột ngột vì dễ gây tác dụng ngược, đẩy họ vào sự cô lập hơn. Mục tiêu thực tế là chuyển dần từ tương tác thụ động sang kết nối chủ động ngoài đời thực qua từng bước nhỏ.
Trước hết, tạo khoảng lặng không thiết bị trong bữa ăn, 30 phút trước khi ngủ hoặc khi đi dạo. Những khoảng thời gian này giúp não bộ "reset" và tái kết nối với hiện tại.
Thay vì trả lời hàng loạt tin nhắn xã giao, hãy gọi điện cho một người tin cậy để chia sẻ thật lòng về tình trạng của mình. Một cuộc gọi thoại kéo dài 15 phút có thể mang lại hiệu quả tâm lý cao hơn nhiều so với 100 tin nhắn.
Tham gia câu lạc bộ thể thao, lớp kỹ năng hay nhóm tình nguyện cũng giúp giảm áp lực giao tiếp. Khi có sẵn chủ đề chung, việc bắt chuyện trở nên tự nhiên hơn, áp lực xã giao được giảm nhẹ.
Người trẻ cần hành động ngay cả khi còn lo lắng. Những lần tiếp xúc nhỏ, lặp lại sẽ dần xây dựng lại cảm giác an toàn. Quan trọng hơn, cần kiên nhẫn hiểu rằng một mối quan hệ sâu sắc đòi hỏi thời gian cùng trải nghiệm thực tế, không thể có ngay lập tức như trên mạng ảo.
Gia đình và cộng đồng cần thay đổi cách phản ứng khi lắng nghe người trẻ. Thay vì phán xét bằng câu nói "có gì đâu mà buồn", hãy lắng nghe chân thành để tạo không gian an toàn. Thừa nhận cô đơn không phải thất bại, mà là bước nhận diện nhu cầu kết nối lành mạnh.
"Công nghệ mang lại thế giới phẳng, nhưng quyền đặt smartphone xuống để bước ra ngoài đời thực hoàn toàn thuộc về mỗi người", ông Thiện nói.
Gần đây, Minh Quân đang học thói quen tắt hẳn máy tính, đặt điện thoại sang góc bàn trước giờ ngủ. Dù còn bồn chồn trước sự tĩnh lặng, anh đã hẹn cà phê trực tiếp với người bạn cũ vào cuối tuần. Thu Trang cũng đăng thông báo tạm rời mạng xã hội để nghỉ ngơi. Cô thiết lập lịch sinh hoạt và nghỉ ngơi để vun xới sự bình yên từ bên trong nội tâm.
Mỹ Ý