GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, cho biết béo phì là một bệnh mạn tính, đa yếu tố, tác động đến nhiều cơ quan và dễ tái phát, không đơn thuần là vấn đề ngoại hình hay thiếu ý chí.
Mô mỡ dư thừa hoạt động như một cơ quan nội tiết - miễn dịch, ảnh hưởng đến chuyển hóa, huyết áp, tình trạng viêm, chức năng nội mô và cấu trúc, chức năng tim.
Đặc biệt, mỡ nội tạng kích hoạt nhiều cơ chế chuyển hóa và viêm, đẩy nhanh quá trình tổn thương mạch máu. Béo phì làm nặng thêm các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường típ 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, bệnh gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa và ngưng thở khi ngủ.
Ví dụ điển hình cho mối quan hệ này là suy tim. Béo phì làm tăng nhu cầu chuyển hóa và gánh nặng lên hệ tim mạch, đồng thời tăng nguy cơ bệnh động mạch vành do xơ vữa, từ đó góp phần dẫn đến suy tim.
Ở chiều ngược lại, người béo phì mắc suy tim thường có nhiều triệu chứng hơn, khả năng gắng sức thấp hơn, chất lượng cuộc sống kém hơn và nguy cơ nhập viện vì suy tim cao hơn. Lượng mỡ tích tụ nhiều cũng liên quan đến nguy cơ nhập viện và mức độ triệu chứng cao hơn.
Do đó, các chuyên gia nhấn mạnh béo phì không chỉ là yếu tố nguy cơ đi kèm mà cần trở thành mục tiêu điều trị chính trong dự phòng và quản lý bệnh tim.
GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam chia sẻ về bệnh béo phì và tim mạch. Ảnh: Phương Nguyễn
GS Hùng cho biết đánh giá béo phì không nên chỉ dựa vào cân nặng hay chỉ số BMI. Mặc dù BMI vẫn hữu ích trong sàng lọc, các bác sĩ cần kết hợp với vòng eo, phân bố mỡ, thành phần cơ thể, bệnh đồng mắc, tổn thương cơ quan đích và nguy cơ tim mạch - thận - chuyển hóa. Cách tiếp cận này giúp nhận diện những người có lượng mỡ nội tạng cao dù BMI chưa quá cao, từ đó cá thể hóa mục tiêu điều trị.
Mục tiêu điều trị cũng chuyển từ câu hỏi "giảm bao nhiêu kilogram?" sang "sức khỏe được cải thiện như thế nào?". Giảm ít nhất 5% trọng lượng cơ thể cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch; giảm từ 10% trở lên mang lại lợi ích lớn hơn trong kiểm soát biến chứng và kết cục tim mạch. Một số trường hợp cần giảm từ 15%. Hiệu quả điều trị được đánh giá qua khả năng vận động, triệu chứng, chất lượng cuộc sống, kiểm soát bệnh đồng mắc và nguy cơ biến cố tim mạch, thay vì chỉ dựa vào số cân giảm được.
Với người mắc bệnh tim mạch, lựa chọn phương pháp điều trị béo phì cần đặc biệt chú trọng an toàn và lợi ích tim mạch. Can thiệp lối sống vẫn là nền tảng. Tùy mức độ béo phì, bệnh đồng mắc và mục tiêu điều trị, thuốc kết hợp với thay đổi lối sống, đặc biệt ở người cần giảm cân đáng kể hoặc kiểm soát nguy cơ tim mạch sớm.
Các liệu pháp incretin như thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 và GIP/GLP-1 đang mở ra thêm lựa chọn mới trong quản lý béo phì. Phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân có thể cân nhắc khi điều trị không phẫu thuật không đạt mục tiêu, chẳng hạn BMI cao kèm bệnh đồng mắc, theo chỉ định chuyên môn.
Quản lý béo phì ở người bệnh tim mạch là một hành trình dài hạn, đa mô thức và cá thể hóa. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là giảm cân mà còn là giảm lượng mỡ dư thừa, cải thiện chức năng cơ quan, kiểm soát bệnh đồng mắc, nâng cao thể lực, chất lượng cuộc sống và giảm nguy cơ biến cố tim mạch.
Mối liên hệ hai chiều này được các chuyên gia đưa vào bản đồng thuận về Béo phì và Bệnh tim mạch của Hội Tim mạch học Việt Nam vừa công bố. Tài liệu chuyên môn này xây dựng trên cơ sở đồng thuận của các chuyên gia tim mạch và nhiều lĩnh vực liên quan, cập nhật bằng chứng về mối liên hệ giữa béo phì và sức khỏe tim mạch, đồng thời đưa ra các khuyến nghị về dự phòng, phát hiện và điều trị.
Tài liệu ra đời trong bối cảnh béo phì trở thành một trong những thách thức sức khỏe cộng đồng lớn nhất thế kỷ XXI. Tại Việt Nam, tỷ lệ béo phì hiện thấp hơn mức trung bình thế giới nhưng tốc độ gia tăng thuộc nhóm nhanh. Năm 2021, tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành 18-69 tuổi là 19,5%, dự báo đến năm 2035, tỷ lệ này tăng 4% mỗi năm, tạo gánh nặng lớn lên hệ thống y tế.
Bác sĩ điều trị cho bệnh nhân tại phòng Hồi sức tích cực, Bệnh viện Quân y 175: Quỳnh Trần
Lê Nga