Bỏ qua điều hướng
•

Người phụ nữ đưa gạo nếp Tài vùng cao ra thị trường

Người phụ nữ đưa gạo nếp Tài vùng cao ra thị trường
Nguồn ảnh: VnExpress

Từ giống bí xanh thơm đến gạo nếp Tài, Ma Thị Ninh tìm cách đưa nông sản bản địa ra thị trường, giúp người dân thay đổi tập quán sản xuất và tạo sinh kế.

Năm 2017, Ma Thị Ninh cùng hai người khác thuê 1.000 m2 đất trồng bí xanh thơm. Sau khoảng bốn tháng, họ thu hoạch hơn 4 tấn quả, bán khoảng 8.000 đồng mỗi kg, thu về hơn 30 triệu đồng. Kết quả ấy khiến Ninh nhận ra những thửa ruộng quen thuộc có thể mang lại thu nhập tốt hơn nếu người dân biết lựa chọn cây trồng phù hợp và chủ động tìm đầu ra.

Một năm sau, chị thành lập Hợp tác xã Yến Dương, bắt đầu từ bí xanh thơm rồi mở rộng sang gạo nếp Tài, miến dong và các sản phẩm chế biến từ nông sản địa phương. Thay vì để từng hộ tự sản xuất, tự tìm người mua, Ninh kết nối bà con thành nhóm cùng làm, cùng nâng chất lượng và xây dựng thị trường cho sản phẩm của quê hương.

Nông dân Ma Thị Ninh tại lễ tôn vinh nông dân Việt Nam xuất sắc. Ảnh: Gia Chính

Nông dân Ma Thị Ninh tại lễ tôn vinh nông dân Việt Nam xuất sắc. Ảnh: Gia Chính

Sinh năm 1984, là người Tày ở thôn Nà Giảo, xã Thượng Minh, tỉnh Thái Nguyên, Ninh lớn lên trong gia đình làm nông. Chị từng tham gia chương trình giảm nghèo 30a, làm việc tại bộ phận tài nguyên và môi trường của huyện Ba Bể cũ, đồng thời theo học ngành môi trường tại Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Sau đó, chị có ba năm làm công việc kiêm nhiệm ở xã.

Quãng thời gian làm việc tại xã giúp Ninh hiểu những khó khăn của người dân. Nhiều gia đình có kinh nghiệm trồng trọt, sở hữu sản phẩm gắn với tập quán lâu đời, nhưng chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, bán nông sản thô và phụ thuộc vào thương lái. Chị nhận thấy muốn cải thiện thu nhập cho bà con thì không thể chỉ hướng dẫn kỹ thuật canh tác, mà còn phải tìm cách tổ chức sản xuất và kết nối đầu ra.

"Tôi không chỉ muốn giúp nông dân bán nông sản mà còn cùng bà con xây dựng niềm tin với khách hàng. Mỗi sản phẩm địa phương đều mang câu chuyện về văn hóa, con người nơi đây. Khi giữ được chất lượng và tìm được đầu ra ổn định, nông sản sẽ trở thành hàng hóa có giá trị, giúp người dân tăng thu nhập", Ninh chia sẻ.

Bí xanh thơm là bước khởi đầu, nhưng Ninh không muốn hợp tác xã chỉ phụ thuộc vào một loại cây trồng. Chị tiếp tục tìm hiểu những sản vật sẵn có tại địa phương, trong đó có gạo nếp Tài, giống lúa gắn với đời sống của cộng đồng người Dao ở Yến Dương. Gạo có hương thơm, độ dẻo đặc trưng, song trước đây chủ yếu được các gia đình trồng để ăn, ít được sản xuất thành hàng hóa.

Người dân vùng cao thu hoạch lúa. Ảnh: NVCC

Người dân vùng cao thu hoạch lúa. Ảnh: NVCC

Muốn đưa nếp Tài ra thị trường, hợp tác xã phải giải quyết đồng thời hai việc: khôi phục nguồn giống và tổ chức vùng trồng đủ ổn định để bảo đảm chất lượng. Những hộ đầu tiên được vận động tham gia trên diện tích khoảng 5.000-6.000 m2. Từ đề xuất khôi phục giống lúa tại một cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh, Ninh cùng các đơn vị chuyên môn và người dân theo đuổi công việc này trong nhiều năm.

Các chuyên gia và nông dân cùng xuống đồng, theo dõi quá trình canh tác, lựa chọn và phục hồi giống. Hợp tác xã từng bước xây dựng ruộng giống để chủ động nguồn cung, đồng thời vận động thêm các hộ tham gia sản xuất. Với Ninh, khôi phục nếp Tài không chỉ là giữ lại giống lúa truyền thống mà còn là tìm cách để sản phẩm có thể nuôi sống người trồng trong điều kiện sản xuất hiện nay.

Tuy nhiên, thay đổi cách làm đã ăn sâu trong tập quán của người dân không dễ dàng. Tại một hộ được Ninh hướng dẫn kỹ thuật cấy lúa thưa, người vợ làm theo sau buổi tập huấn, nhưng người chồng lo ruộng ít cây sẽ mất mùa, không đủ tiền nuôi con ăn học. Ban đêm, ông cầm đèn pin ra đồng, lặng lẽ cấy thêm mạ.

Câu chuyện ấy khiến Ninh hiểu rằng tập huấn kỹ thuật thôi chưa đủ. Nông dân cần hiểu vì sao phải thay đổi, được chứng kiến hiệu quả và cùng gia đình thống nhất cách làm. Bởi vậy bên cạnh hướng dẫn trên đồng ruộng, hợp tác xã phải kiên trì giải thích, làm mẫu và đồng hành với các hộ trong suốt quá trình sản xuất.

Khi nếp Tài được phát triển theo hướng hàng hóa, yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc cũng trở nên chặt chẽ hơn. Người dân phải tuân thủ quy trình canh tác, kiểm soát nguy cơ lẫn tạp chất, hạn chế ảnh hưởng từ những khu vực sản xuất không đáp ứng yêu cầu và ghi chép quá trình chăm sóc. Với những hộ quen làm nông theo kinh nghiệm, việc ghi nhật ký điện tử hay thực hiện đầy đủ quy trình mới là thay đổi không nhỏ.

Bí xanh là sản phẩm đặc trưng của HTX Yến Dương. Ảnh: NVCC

Bí xanh là sản phẩm đặc trưng của HTX Yến Dương. Ảnh: NVCC

Nhiều hộ vẫn ghi chép bằng sổ giấy, sau đó nhân viên hợp tác xã hỗ trợ tổng hợp và số hóa dữ liệu. Công việc của Ninh vì thế không chỉ dừng ở chuyện vận động người dân trồng lúa hay bí xanh, mà còn bao gồm quản lý vùng nguyên liệu, hoàn thiện hồ sơ sản phẩm và tìm khách hàng. Chị phải tự học thêm về kế toán, thuế, hóa đơn điện tử và quản trị để đáp ứng yêu cầu vận hành hợp tác xã.

Từ những sản phẩm ban đầu, chị Dương phát triển thêm trà bí xanh thơm, miến dong và các mặt hàng chế biến khác. Trà bí thơm được đưa ra thị trường từ năm 2021, từng giành giải nhất tại cuộc thi khởi nghiệp cấp tỉnh. Việc chế biến giúp đa dạng sản phẩm, kéo dài thời gian bảo quản và mở thêm cơ hội tiêu thụ nông sản ngoài mùa thu hoạch.

Dù vậy, mở rộng sản xuất vẫn là bài toán khó. Nguồn vốn của hợp tác xã có hạn, trong khi người dân thường cần được thanh toán ngay sau khi thu hoạch. Yến Dương chưa thể thu mua toàn bộ nông sản cùng lúc mà phải chia thành nhiều đợt, xoay vòng vốn để duy trì hoạt động. Hợp tác xã vừa phải tìm đầu ra, vừa cân đối dòng tiền để không rơi vào tình trạng có sản phẩm nhưng thiếu khả năng thu mua.

Năm 2025, Yến Dương đạt doanh thu khoảng 3 tỷ đồng, lợi nhuận 600 triệu đồng. Hợp tác xã có 20 hộ thành viên, liên kết với hơn 200 hộ sản xuất, tổ chức vùng nguyên liệu trên 30 ha gồm lúa, bí xanh thơm và dong riềng. Từ những thử nghiệm ban đầu, mô hình dần hình thành mạng lưới sản xuất, kết nối nhiều hộ dân với cùng một mục tiêu nâng giá trị nông sản.

Được vinh danh là Nông dân Việt Nam xuất sắc trong 40 năm đổi mới, Ma Thị Ninh vẫn tiếp tục hành trình đưa nông sản bản địa ra thị trường. Với chị, điều quan trọng không chỉ là phát triển hợp tác xã mà còn giúp người dân sống được bằng sản phẩm quê hương, giữ gìn những giống cây trồng truyền thống và giá trị văn hóa của địa phương.

Gia Chính

Khởi đầu từ mô hình trồng bí xanh thơm trên 1.000 m2 đất thuê năm 2017 với doanh thu hơn 30 triệu đồng, chị Ma Thị Ninh đã nhận ra tiềm năng kinh tế to lớn của nông sản bản địa nếu được tổ chức bài bản. Năm 2018, chị thành lập Hợp tác xã Yến Dương nhằm liên kết các hộ dân sản xuất nhỏ lẻ, khắc phục triệt để tình trạng bán nông sản thô và lệ thuộc vào thương lái. Đây là bước ngoặt quan trọng giúp đồng bào địa phương thay đổi căn bản tư duy canh tác truyền thống sang tư duy kinh tế thị trường. Để đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng giá trị chuỗi cung ứng, người phụ nữ dân tộc Tày tiếp tục mở rộng quy mô sang gạo nếp Tài, miến dong cùng nhiều đặc sản chế biến khác. Giống lúa nếp Tài vốn gắn liền với văn hóa cộng đồng người Dao nhưng trước đây chỉ dùng phục vụ sinh hoạt nội bộ do thiếu định hướng thương mại hóa. Nhờ kết hợp kiến thức chuyên ngành môi trường với kinh nghiệm thực tế sau thời gian tham gia chương trình 30a, chị đã chủ động đề xuất giải pháp đồng hành cùng bà con giải quyết bài toán sinh kế bền vững. Hợp tác xã đã phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị chuyên môn để tiến hành chọn lọc, phục hồi nguồn giống trên diện tích ban đầu khoảng 5.000 đến 6.000 m2. Quá trình theo dõi đồng ruộng sát sao cùng nông dân giúp đơn vị từng bước thiết lập vùng nguyên liệu ổn định, kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng và chủ động nguồn cung ra thị trường. Mô hình liên kết chuỗi giá trị này không chỉ bảo tồn thành công nguồn gen quý của địa phương mà còn trực tiếp nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.
amung