Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội vừa xét xử vụ kiện giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Thủ Đô II (gọi tắt là Công ty Thủ đô) và bị đơn là bà Phương (68 tuổi), liên quan đến thỏa thuận góp vốn thực hiện dự án chung cư Capital Elite trên khu đất khoảng 4.000m2 ở đường Phạm Hùng, Hà Nội.
Tranh luận chuyện dừng góp vốn do lỗi của bên nào
Tranh chấp xảy ra sau 17 năm hợp tác, một bên muốn hủy thỏa thuận và trả lại tiền góp vốn, còn bên kia yêu cầu thanh toán lợi nhuận khi dự án đã hoàn thành, mở bán.
Hồ sơ vụ án thể hiện, năm 2009, giữa bà Phương và Công ty Thủ đô ký thỏa thuận hợp tác đầu tư, thống nhất cùng góp vốn theo tỷ lệ 50-50%, tổng vốn ban đầu dự kiến khoảng 40 tỷ đồng.
Giai đoạn đầu, bà Phương thực hiện việc góp vốn. Phía công ty tiến hành các thủ tục pháp lý, khảo sát và làm việc với cơ quan chức năng để triển khai dự án.
Công ty Thủ Đô II cho rằng từ năm 2014 đến nay, bà Phương tự ý ngừng góp vốn, trong khi dự án bước vào giai đoạn cần tập trung nguồn lực tài chính. Do đó, doanh nghiệp xác định phía đối tác vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và đề nghị tòa tuyên chấm dứt thỏa thuận năm 2009.
Nếu yêu cầu này được chấp nhận, công ty đồng ý hoàn trả 29 tỷ đồng mà bà Phương đã góp.
Bà Phương không đồng tình. Bà cho biết nghĩa vụ góp vốn ban đầu của mình chỉ khoảng 20 tỷ đồng nhưng thực tế đã giao cho công ty 29,1 tỷ đồng, có chứng từ thể hiện.
Bà cho rằng dự án đã được hoàn thành, các căn hộ được chuyển nhượng nhưng phía công ty không thanh quyết toán phần lợi nhuận hợp tác với bà.
Từ đó, bà Phương yêu cầu công ty thanh toán tổng cộng 251 tỷ đồng, gồm 29 tỷ đồng tiền gốc; khoảng 13 tỷ đồng là giá trị căn hộ rộng 125m2 mà bà cho rằng được hứa thưởng; 63 tỷ đồng tiền lãi từ khoản vốn đã góp trong 17 năm và 146 tỷ đồng lợi nhuận từ dự án.
Tại phiên tòa, bà Phương trình bày việc góp vốn trước đây được thực hiện trực tiếp với giám đốc công ty. Mỗi khi dự án cần tiền, phía công ty thông báo và bà chuyển tiền.
Bà dẫn nội dung thỏa thuận hợp tác, trong đó quy định hàng tháng công ty có trách nhiệm thông báo tiến độ và các khoản chi phí của dự án.
Lý giải việc không tiếp tục nộp tiền từ năm 2014, bà Phương cho biết từ thời điểm này không nhận được yêu cầu góp thêm vốn.
Đại diện Công ty Thủ Đô II cho biết sau đó dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn hơn 626 tỷ đồng.
Dự án chung cư Capital Elite (bìa phải) liên quan đến vụ tranh chấp (Ảnh: Phúc Bình).
Doanh nghiệp cho rằng so với quy mô này, 29 tỷ đồng mà bà Phương đã góp chỉ chiếm một phần nhỏ, nên việc yêu cầu chia lợi nhuận với số tiền hơn 200 tỷ đồng là không phù hợp.
Bà Phương phản bác, cho rằng công ty chưa từng có văn bản chính thức thông báo việc tổng mức đầu tư tăng lên hơn 626 tỷ đồng, cũng không gửi yêu cầu bà tiếp tục góp vốn hoặc đề nghị chấm dứt hợp đồng.
Bà cho rằng do công ty không công khai tài chính nên bản thân không có cơ sở xác định phải góp thêm bao nhiêu tiền. Trong khi đó, chủ đầu tư đưa đơn vị bên ngoài vào hợp tác, triển khai xây dựng và bán căn hộ nhưng không bàn bạc hay thanh quyết toán với bà.
Tại tòa, bà Phương cho biết từng nhiều lần mong muốn hòa giải vì tuổi đã cao, không muốn kéo dài kiện tụng. Sau một số cuộc thương thảo, bà thậm chí gửi thư bày tỏ mong muốn giải quyết vụ việc nhưng không nhận được hồi đáp.
Chỉ được nhận tiền gốc và phạt
Làm rõ khoản 251 tỷ đồng mà bà Phương yêu cầu, HĐXX lưu ý số tiền tăng rất lớn so với vốn ban đầu. Nếu áp dụng phương pháp tính lãi trên số tiền góp vốn, vụ việc có thể bị nhìn nhận theo hướng khác với bản chất hợp tác đầu tư.
Bà Phương khẳng định không cho công ty vay tiền để lấy lãi mà ngay từ đầu xác định đây là khoản góp vốn để được chia lợi nhuận.
HĐXX phân tích, thỏa thuận năm 2009 quy định các bên được hưởng “50% quyền sử dụng” đối với dự án khi được UBND thành phố chấp thuận phê duyệt, không đồng nghĩa với việc mỗi bên có quyền sở hữu 50% toàn bộ tài sản hình thành trên đất.
Trong phán quyết, HĐXX nhận định Thỏa thuận hợp tác đầu tư năm 2009 về bản chất là hợp đồng góp vốn, trong đó các bên cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro.
Tòa xác định hợp đồng không quy định bà Phương được hưởng lãi trên phần vốn góp, cũng không ấn định một khoản lợi nhuận cố định hay cho phép tính lãi ngân hàng rồi nhập lãi vào gốc.
Bên cạnh đó, từ năm 2014, bà Phương không tiếp tục góp tiền trong bối cảnh tổng mức đầu tư và quy mô dự án tăng lên. Vì vậy, tòa cho rằng yêu cầu hưởng lợi nhuận trên toàn bộ dự án với số tiền bà đưa ra không có căn cứ để chấp nhận.
HĐXX cũng ghi nhận trong suốt quá trình thực hiện thỏa thuận, Công ty Thủ Đô II không xuất trình được văn bản thể hiện đã đôn đốc, yêu cầu bà Phương tiếp tục góp tiền.
Tuy nhiên, căn cứ việc hợp tác thực tế đã gián đoạn từ năm 2014 cùng nội dung thỏa thuận và các quy định pháp luật liên quan, tòa xác định có cơ sở chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng của Công ty Thủ Đô II. Tòa tuyên chấm dứt Thỏa thuận hợp tác đầu tư giữa hai bên kể từ thời điểm công ty khởi kiện.
Dù bác yêu cầu bà Phương đòi 251 tỷ đồng, HĐXX buộc Công ty Thủ Đô II ngoài việc hoàn trả số vốn đã nhận còn phải trả thêm khoản tiền tương đương số vốn góp.
Tổng cộng, sau 17 năm hợp tác, công ty phải thanh toán cho bà Phương 58 tỷ đồng.