Bỏ qua điều hướng
•

Nữ đại gia góp 29 tỷ đồng xây chung cư, gần 20 năm sau bị kiện trả lại vốn

Nữ đại gia góp 29 tỷ đồng xây chung cư, gần 20 năm sau bị kiện trả lại vốn
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Sau 17 năm góp vốn vào dự án chung cư 32 tầng trên đường Phạm Hùng, bà Phương yêu cầu được thanh toán 251 tỷ đồng, song tòa tuyên bà được nhận 58 tỷ đồng.

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội vừa xét xử vụ kiện giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Thủ Đô II (gọi tắt là Công ty Thủ đô) và bị đơn là bà Phương (68 tuổi), liên quan đến thỏa thuận góp vốn thực hiện dự án chung cư Capital Elite trên khu đất khoảng 4.000m2 ở đường Phạm Hùng, Hà Nội.

Tranh luận chuyện dừng góp vốn do lỗi của bên nào

Tranh chấp xảy ra sau 17 năm hợp tác, một bên muốn hủy thỏa thuận và trả lại tiền góp vốn, còn bên kia yêu cầu thanh toán lợi nhuận khi dự án đã hoàn thành, mở bán.

Hồ sơ vụ án thể hiện, năm 2009, giữa bà Phương và Công ty Thủ đô ký thỏa thuận hợp tác đầu tư, thống nhất cùng góp vốn theo tỷ lệ 50-50%, tổng vốn ban đầu dự kiến khoảng 40 tỷ đồng.

Giai đoạn đầu, bà Phương thực hiện việc góp vốn. Phía công ty tiến hành các thủ tục pháp lý, khảo sát và làm việc với cơ quan chức năng để triển khai dự án.

Công ty Thủ Đô II cho rằng từ năm 2014 đến nay, bà Phương tự ý ngừng góp vốn, trong khi dự án bước vào giai đoạn cần tập trung nguồn lực tài chính. Do đó, doanh nghiệp xác định phía đối tác vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và đề nghị tòa tuyên chấm dứt thỏa thuận năm 2009.

Nếu yêu cầu này được chấp nhận, công ty đồng ý hoàn trả 29 tỷ đồng mà bà Phương đã góp.

Bà Phương không đồng tình. Bà cho biết nghĩa vụ góp vốn ban đầu của mình chỉ khoảng 20 tỷ đồng nhưng thực tế đã giao cho công ty 29,1 tỷ đồng, có chứng từ thể hiện.

Bà cho rằng dự án đã được hoàn thành, các căn hộ được chuyển nhượng nhưng phía công ty không thanh quyết toán phần lợi nhuận hợp tác với bà.

Từ đó, bà Phương yêu cầu công ty thanh toán tổng cộng 251 tỷ đồng, gồm 29 tỷ đồng tiền gốc; khoảng 13 tỷ đồng là giá trị căn hộ rộng 125m2 mà bà cho rằng được hứa thưởng; 63 tỷ đồng tiền lãi từ khoản vốn đã góp trong 17 năm và 146 tỷ đồng lợi nhuận từ dự án.

Tại phiên tòa, bà Phương trình bày việc góp vốn trước đây được thực hiện trực tiếp với giám đốc công ty. Mỗi khi dự án cần tiền, phía công ty thông báo và bà chuyển tiền.

Bà dẫn nội dung thỏa thuận hợp tác, trong đó quy định hàng tháng công ty có trách nhiệm thông báo tiến độ và các khoản chi phí của dự án.

Lý giải việc không tiếp tục nộp tiền từ năm 2014, bà Phương cho biết từ thời điểm này không nhận được yêu cầu góp thêm vốn.

Đại diện Công ty Thủ Đô II cho biết sau đó dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn hơn 626 tỷ đồng.

Nữ đại gia góp 29 tỷ đồng xây chung cư, gần 20 năm sau bị kiện trả lại vốn - 1

Dự án chung cư Capital Elite (bìa phải) liên quan đến vụ tranh chấp (Ảnh: Phúc Bình).

Doanh nghiệp cho rằng so với quy mô này, 29 tỷ đồng mà bà Phương đã góp chỉ chiếm một phần nhỏ, nên việc yêu cầu chia lợi nhuận với số tiền hơn 200 tỷ đồng là không phù hợp.

Bà Phương phản bác, cho rằng công ty chưa từng có văn bản chính thức thông báo việc tổng mức đầu tư tăng lên hơn 626 tỷ đồng, cũng không gửi yêu cầu bà tiếp tục góp vốn hoặc đề nghị chấm dứt hợp đồng.

Bà cho rằng do công ty không công khai tài chính nên bản thân không có cơ sở xác định phải góp thêm bao nhiêu tiền. Trong khi đó, chủ đầu tư đưa đơn vị bên ngoài vào hợp tác, triển khai xây dựng và bán căn hộ nhưng không bàn bạc hay thanh quyết toán với bà.

Tại tòa, bà Phương cho biết từng nhiều lần mong muốn hòa giải vì tuổi đã cao, không muốn kéo dài kiện tụng. Sau một số cuộc thương thảo, bà thậm chí gửi thư bày tỏ mong muốn giải quyết vụ việc nhưng không nhận được hồi đáp.

Chỉ được nhận tiền gốc và phạt

Làm rõ khoản 251 tỷ đồng mà bà Phương yêu cầu, HĐXX lưu ý số tiền tăng rất lớn so với vốn ban đầu. Nếu áp dụng phương pháp tính lãi trên số tiền góp vốn, vụ việc có thể bị nhìn nhận theo hướng khác với bản chất hợp tác đầu tư.

Bà Phương khẳng định không cho công ty vay tiền để lấy lãi mà ngay từ đầu xác định đây là khoản góp vốn để được chia lợi nhuận.

HĐXX phân tích, thỏa thuận năm 2009 quy định các bên được hưởng “50% quyền sử dụng” đối với dự án khi được UBND thành phố chấp thuận phê duyệt, không đồng nghĩa với việc mỗi bên có quyền sở hữu 50% toàn bộ tài sản hình thành trên đất.

Trong phán quyết, HĐXX nhận định Thỏa thuận hợp tác đầu tư năm 2009 về bản chất là hợp đồng góp vốn, trong đó các bên cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro.

Tòa xác định hợp đồng không quy định bà Phương được hưởng lãi trên phần vốn góp, cũng không ấn định một khoản lợi nhuận cố định hay cho phép tính lãi ngân hàng rồi nhập lãi vào gốc.

Bên cạnh đó, từ năm 2014, bà Phương không tiếp tục góp tiền trong bối cảnh tổng mức đầu tư và quy mô dự án tăng lên. Vì vậy, tòa cho rằng yêu cầu hưởng lợi nhuận trên toàn bộ dự án với số tiền bà đưa ra không có căn cứ để chấp nhận.

HĐXX cũng ghi nhận trong suốt quá trình thực hiện thỏa thuận, Công ty Thủ Đô II không xuất trình được văn bản thể hiện đã đôn đốc, yêu cầu bà Phương tiếp tục góp tiền.

Tuy nhiên, căn cứ việc hợp tác thực tế đã gián đoạn từ năm 2014 cùng nội dung thỏa thuận và các quy định pháp luật liên quan, tòa xác định có cơ sở chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng của Công ty Thủ Đô II. Tòa tuyên chấm dứt Thỏa thuận hợp tác đầu tư giữa hai bên kể từ thời điểm công ty khởi kiện.

Dù bác yêu cầu bà Phương đòi 251 tỷ đồng, HĐXX buộc Công ty Thủ Đô II ngoài việc hoàn trả số vốn đã nhận còn phải trả thêm khoản tiền tương đương số vốn góp.

Tổng cộng, sau 17 năm hợp tác, công ty phải thanh toán cho bà Phương 58 tỷ đồng.

Sau 17 năm hợp tác, khoản góp vốn xây chung cư Capital Elite tại đường Phạm Hùng, Hà Nội, trở thành tâm điểm vụ kiện giữa Công ty TNHH Thủ Đô II và bà Phương, 68 tuổi. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội vừa xét xử tranh chấp xoay quanh thỏa thuận đầu tư ký năm 2009, khi hai bên thống nhất góp vốn theo tỷ lệ ngang nhau. Dự án nằm trên khu đất khoảng 4.000m2, còn câu hỏi lớn trước tòa là ai phải chịu trách nhiệm khi việc góp vốn ngừng lại và công trình đã hoàn thành. Theo hồ sơ, tổng vốn ban đầu dự kiến khoảng 40 tỷ đồng, bà Phương góp tiền ở giai đoạn đầu còn công ty lo thủ tục pháp lý, khảo sát và làm việc với cơ quan chức năng. Công ty Thủ Đô II cho rằng từ năm 2014, bà Phương tự ý dừng góp vốn đúng lúc dự án cần tập trung nguồn lực tài chính để tiếp tục triển khai. Doanh nghiệp vì vậy đề nghị chấm dứt thỏa thuận năm 2009, đồng thời tuyên bố sẵn sàng hoàn trả 29 tỷ đồng bà Phương đã góp nếu tòa chấp thuận. Bà Phương phản bác rằng nghĩa vụ góp vốn ban đầu của mình chỉ khoảng 20 tỷ đồng, nhưng thực tế đã giao cho công ty 29,1 tỷ đồng và có chứng từ xác nhận. Bà cho biết dự án đã hoàn thành, căn hộ được chuyển nhượng, nhưng công ty chưa thanh quyết toán phần lợi nhuận mà bà cho rằng mình được hưởng. Từ đó, bà yêu cầu tổng cộng 251 tỷ đồng, gồm 29 tỷ đồng tiền gốc, khoảng 13 tỷ đồng giá trị căn hộ 125m2 được hứa thưởng, 63 tỷ đồng tiền lãi và 146 tỷ đồng lợi nhuận dự án. Tại phiên xử, bà Phương nói việc góp vốn được thực hiện trực tiếp với giám đốc công ty, mỗi khi dự án cần tiền thì phía công ty thông báo để bà chuyển khoản. Bà cũng dẫn điều khoản trong thỏa thuận, theo đó công ty phải thông tin hàng tháng về tiến độ thực hiện và các khoản chi phí liên quan đến dự án. Lý giải việc không nộp thêm tiền từ năm 2014, bà nói mình không nhận được yêu cầu góp vốn mới, cũng không được thông báo chính thức về việc tổng mức đầu tư tăng. Đại diện công ty cho biết dự án sau đó được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn hơn 626 tỷ đồng, lớn hơn nhiều so với khoản bà Phương đã góp. Theo doanh nghiệp, 29 tỷ đồng chỉ chiếm phần nhỏ trong quy mô vốn ấy, nên yêu cầu chia lợi nhuận hơn 200 tỷ đồng là không phù hợp. Bà Phương thì cho rằng công ty không công khai tài chính, không yêu cầu bà góp thêm hoặc đề nghị chấm dứt hợp đồng, nhưng lại đưa đơn vị bên ngoài vào xây dựng và bán căn hộ. Bà Phương nói việc hợp tác với đơn vị khác diễn ra mà không có bàn bạc hay thanh quyết toán với mình, trong khi bà không có cơ sở biết cần góp thêm bao nhiêu. Bà cho biết từng nhiều lần mong muốn hòa giải vì tuổi đã cao, không muốn kéo dài kiện tụng, thậm chí gửi thư đề nghị giải quyết nhưng không nhận được hồi đáp. Phía công ty và bà Phương vì thế đưa ra hai cách nhìn khác nhau về cùng một thỏa thuận: nghĩa vụ góp vốn chưa hoàn thành hay quyền lợi từ dự án chưa được đảm bảo. Khi xem xét khoản đòi 251 tỷ đồng, hội đồng xét xử lưu ý số tiền yêu cầu đã tăng rất lớn so với vốn ban đầu và cần phân biệt bản chất khoản tiền. Nếu tính khoản góp vốn như một khoản vay có lãi, quan hệ giữa hai bên có thể bị nhìn nhận khác với hợp tác đầu tư. Bà Phương khẳng định mình không cho công ty vay để hưởng lãi, mà góp vốn ngay từ đầu với mục đích được chia lợi nhuận khi dự án sinh lời. Hội đồng xét xử phân tích thỏa thuận năm 2009 quy định hai bên được hưởng “50% quyền sử dụng” đối với dự án khi được UBND thành phố chấp thuận phê duyệt. Nội dung này không đồng nghĩa mỗi bên đương nhiên sở hữu 50% toàn bộ tài sản hình thành trên khu đất, theo phần nhận định được nêu tại phiên tòa. Phán quyết được bài Dân Trí nêu là bà Phương chỉ được nhận lại tiền gốc và khoản phạt; phần thông tin nguồn cung cấp không nêu số tiền phạt cụ thể.