Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có hệ thống đất ngập nước đa dạng với gần 12 triệu ha (không tính các diện tích vùng ngập theo mùa hoặc các điểm nước nóng, suối khoáng).
Cả nước có 74 vùng đất ngập nước, chủ yếu tập trung ở khu vực ven biển, một phần nhỏ ở hải đảo và trong nội địa. Những vùng đất ngập nước được xem là trung tâm của đa dạng sinh học với khoảng 40% các loài thực vật và động vật trên thế giới. Vùng đất ngập nước mặn còn là bể chứa carbon “khổng lồ” với trữ lượng ước tính gấp 5 lần carbon của rừng nhiệt đới. Các cánh rừng ngập mặn cũng là “tấm khiên” bảo vệ hệ sinh thái, hạ tầng và dân cư ven biển.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Tuấn (Trung tâm nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội), diện tích rừng ngập mặn của nước ta hiện có khoảng 168,742ha. Khối lượng carbon lưu trữ ước tính khoảng 8,7 triệu tấn. Cả nước có 2 khu vực đất ngập nước lớn là Đồng bằng sông Cửu Long (51%), Đồng bằng sông Hồng (13%) có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng. Ngoài ra, còn nhiều vùng đất ngập nước nội địa (nước ngọt), có giá trị sinh thái đặc hữu được ghi nhận và bảo vệ trong nhiều công ước quốc tế.
Từ năm 1989, Việt Nam là thành viên của Công ước Ramsar (công ước về bảo tồn vùng đất ngập nước). Cả nước có 9 khu Ramsar với tổng diện tích gần 121 nghìn ha, gồm nhiều hệ sinh thái đặc trưng. Tiêu biểu như: Xuân Thủy (Ninh Bình) với vùng đất ngập nước cửa sông, bãi bồi; vùng ngập nước ngọt Ba Bể (Thái Nguyên); Tràm Chim (Đồng Tháp); hệ sinh thái biển Côn Đảo (Thành phố Hồ Chí Minh); rừng tràm than bùn U Minh Thượng (Kiên Giang); Vân Long (Ninh Bình)… Tuy nhiên, những khu vực đất ngập nước luôn chịu áp lực đáng kể về sụt giảm diện tích và suy thoái sinh cảnh do quá trình biến đổi khí hậu, khô hạn, nước biển dâng, quá trình phát triển kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa…
Chính vì vậy, việc bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị của hệ sinh thái đất ngập nước cần thực hiện đồng bộ đối với các kiểu hệ sinh thái hiện có, không chỉ gói gọn trong việc bảo đảm diện tích bảo tồn hiện hữu, còn phải phục hồi chất lượng rừng, cơ chế thủy văn, nguồn nước, thảm thực vật, nguồn lợi thủy sản, sinh kế của người dân…
Theo Tiến sĩ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, môi trường và biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hệ sinh thái rừng ngập mặn có cơ chế giảm tác động của sóng biển, hấp thụ nước, chống ngập và ngăn ngừa sự tàn phá của tự nhiên đối với các cơ sở hạ tầng ven biển.
“Từ kinh nghiệm ở một số nước trong ứng phó mưa bão và điều kiện thực tế nước ta với bờ biển dài, hứng chịu nhiều trận mưa bão, việc bảo tồn và phát huy hệ sinh thái đất ngập nước là giải pháp then chốt trong ứng phó thiên tai. Chưa kể, rừng ngập mặn còn là nơi lưu trữ carbon rất lớn và là vành đai bảo vệ đa dạng sinh học ven biển”, Tiến sĩ Dư Văn Toán cho biết.
Những năm qua, Việt Nam đã triển khai một số chương trình phục hồi rừng ngập mặn quy mô lớn, như ở U Minh Thượng, U Minh Hạ, Cần Giờ… Tuy nhiên, hiện vẫn chưa triển khai mô hình quản lý vùng bờ tích hợp (ICZM) như ở một số quốc gia biển Hà Lan, Hàn Quốc, Sri Lanka đang thực hiện. Kinh nghiệm từ các nước cho thấy, việc kết hợp giải pháp công trình xanh-xám (gồm đê biển sinh thái, hệ thực vật biển và rạn san hô nhân tạo) đã tăng cường đáng kể khả năng chống chịu thiên tai từ biển. Thậm chí, phương pháp quản trị kết hợp thủy sản, nông nghiệp và môi trường như Indonesia, Philippines đang triển khai cũng cho thấy hiệu quả nhất định.
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược và kế hoạch thực hiện liên quan việc bảo vệ, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước như: Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (Quyết định số 2053/ QĐ-TTg ngày 28/10/2016); Chương trình mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 1670/ QĐ-TTg ngày 31/10/2017); Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017)…
Tuy đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng ảnh hưởng nặng nề của thiên tai cùng với việc thiếu những quy hoạch chung quốc gia cũng như những hạn chế về khoa học ứng dụng khiến cho việc bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Theo ý kiến của các chuyên gia, để quản lý, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước cần thay đổi chiến lược từ khai thác sang phục hồi, bảo tồn và quản trị; ưu tiên tích hợp hệ sinh thái đất ngập nước vào quy hoạch quốc gia, đồng thời tăng cường hợp tác và huy động nguồn lực cho các hoạt động bảo tồn và phục hồi. Bên cạnh đó cần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành và địa phương; tăng cường công tác bảo vệ, xây dựng và vận hành và chia sẻ hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin… nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng hệ sinh thái đất ngập nước và các khu bảo tồn sinh quyển hiện hữu.
NAM PHONG