Bỏ qua điều hướng
•

Phát triển nông nghiệp miền núi: Đừng chỉ hỗ trợ con bò, con lợn

Phát triển nông nghiệp miền núi: Đừng chỉ hỗ trợ con bò, con lợn
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Thay vì chỉ cấp phát cây, con giống, TS Trần Đăng Khởi đề xuất chuyển sang hỗ trợ vốn, kỹ thuật, chế biến và thị trường để giúp người dân phát triển kinh tế bền vững.

Tại tọa đàm “Làm sao để phát triển nông nghiệp miền núi bền vững?” do báo Dân trí tổ chức, TS Trần Đăng Khởi, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Quản trị và Chính sách, Học viện Dân tộc và Tôn giáo, chỉ ra những rào cản về đất đai, sản xuất và thị trường của miền núi.

Nghiên cứu “ngân hàng đất đai”

Ông cho rằng, phát triển kinh tế miền núi bền vững đòi hỏi người dân phải chủ động làm kinh tế, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và bảo vệ tài nguyên. “Trồng cây gì để ăn, nuôi con gì để cúng và để ăn” là cách chuyên gia khái quát tư duy tự cung, tự cấp trước đây.

Ngược lại, TS Trần Đăng Khởi cho rằng làm kinh tế nông nghiệp phải trả lời được câu hỏi trồng cây gì thị trường cần, người mua ưa chuộng và nuôi con gì mang lại lợi nhuận cao.

Đây là thay đổi lớn về nhận thức khi tập quán sản xuất đã hình thành qua nhiều thế hệ.

Để chuyển đổi, ông đề xuất thay phương thức cấp phát hiện vật bằng hỗ trợ theo kết quả và chuỗi giá trị.

Thay vì chỉ cấp bò, lợn cho từng hộ, chính sách có thể hỗ trợ vốn vay ưu đãi, chuồng trại đạt tiêu chuẩn, thiết bị sấy dược liệu và tổ chức thực hiện thông qua hợp tác xã.

Bên cạnh đó, TS Trần Đăng Khởi cũng gợi mở về nội dung đào tạo cần mở rộng sang kỹ năng thị trường, quản trị tài chính và quảng bá qua mạng xã hội.

Phát triển nông nghiệp miền núi: Đừng chỉ hỗ trợ con bò, con lợn - 1

Quang cảnh buổi tọa đàm (Ảnh: Thành Đông).

Thay vì chỉ lấy mật ong rừng, người dân có thể nuôi ong, tạo sản phẩm có thương hiệu gắn với câu chuyện văn hóa.

Ông đề nghị đánh giá hiệu quả bằng thu nhập tăng thêm, độ bền vững của liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân, thay vì chỉ đếm số mô hình, hợp tác xã.

Tuy nhiên, muốn tổ chức được vùng sản xuất hàng hóa, bài toán đất đai phải được tháo gỡ.

Vị chuyên gia dùng từ “manh mún” để mô tả không chỉ đặc điểm ruộng đất miền núi bị chia cắt, nhỏ lẻ. 

Ông phân tích, doanh nghiệp muốn đầu tư lớn nhưng thiếu đất sạch; người dân có đất lại ngại cho thuê vì sợ mất; chính quyền địa phương lúng túng giữa ranh giới đất rừng và đất sản xuất.

Việc tích tụ đất vì vậy tốn chi phí, tiềm ẩn rủi ro pháp lý, trong khi cơ chế tài chính chưa giúp đất đai phát huy đầy đủ giá trị làm vốn.

Phát triển nông nghiệp miền núi: Đừng chỉ hỗ trợ con bò, con lợn - 2

Tiến sĩ Trần Đăng Khởi, Phó trưởng Khoa phụ trách Khoa quản trị và Chính sách, Học viện Dân tộc và Tôn giáo (Ảnh: Thành Đông).

TS Trần Đăng Khởi đề xuất nghiên cứu “ngân hàng đất đai” để tập hợp diện tích chưa sử dụng, thí điểm sử dụng đất đa mục đích, công nhận tài sản đầu tư trên đất. Hợp tác xã làm cầu nối giúp người dân góp quyền sử dụng đất, liên kết với doanh nghiệp.

Với tài nguyên rừng, ông chỉ ra nghịch lý “rừng giàu tài nguyên nhưng người giữ rừng vẫn nghèo”.

Muốn thay đổi thực trạng, việc giao đất, giao rừng cần gắn với bảo đảm pháp lý, thời hạn sử dụng đủ dài và sinh kế ổn định. Bên cạnh kinh phí bảo vệ rừng, người dân cần có điều kiện phát triển cây dược liệu, sản xuất phù hợp dưới tán rừng và kết nối đầu ra.

Chuyển vị thế từ người làm thuê sang ông chủ

Ông cũng đề nghị lồng ghép nguồn lực hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt, kỹ thuật lâm sinh với hợp tác xã và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.

TS Trần Đăng Khởi nhấn mạnh, cần chuyển người dân từ vị thế “người làm thuê cho rừng” thành “ông chủ thực sự của rừng”.

Kinh tế dưới tán rừng còn có thể gắn với du lịch, nhưng phải giữ cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa bản địa. Đối với sản phẩm OCOP, chuyên gia cảnh báo nguy cơ “lạm phát sao” và đồng dạng hóa, khi nhiều địa phương cùng phát triển những mặt hàng tương tự, làm mờ đi lợi thế riêng.

Phát triển nông nghiệp miền núi: Đừng chỉ hỗ trợ con bò, con lợn - 3

Tiến sĩ Trần Đăng Khởi trao đổi tại tọa đàm (Ảnh: Thành Đông).

Ông đề xuất quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với đặc điểm sinh thái, nâng tiêu chuẩn kỹ thuật, xây dựng câu chuyện thương hiệu, hình thành liên minh OCOP và hệ thống kho lạnh, vận chuyển dùng chung.

Thương mại số và du lịch cũng cần được tận dụng để đưa đặc sản đến gần khách hàng.

“Xuất khẩu tại chỗ” thông qua du lịch, theo ông, không chỉ là bán sản phẩm mà còn trao cho du khách trải nghiệm về văn hóa, cách sản xuất và câu chuyện của địa phương.

Chuyển đổi số cũng gặp bốn rào cản: thói quen sản xuất lâu đời, vùng lõm sóng, thiếu kỹ năng số và chi phí công nghệ cao so với quy mô sản xuất nhỏ lẻ.

Phát triển nông nghiệp miền núi: Đừng chỉ hỗ trợ con bò, con lợn - 4

Tiến sĩ Trần Đăng Khởi đưa ra những giải pháp để phát triển kinh tế miền núi (Ảnh: Thành Đông).

Để khắc phục, ông kiến nghị xóa lõm sóng, lõm điện; xây dựng tổ công nghệ số cộng đồng theo cách “cầm tay chỉ việc”; đồng thời lựa chọn thiết bị phù hợp khí hậu từng vùng, phát triển hạ tầng và nền tảng dùng chung. Tại những vùng thiếu nước, ông đề cập hồ treo, thu gom nước mưa, chống thất thoát, tưới tiết kiệm và cây trồng chịu hạn.

Để ứng phó thiên tai, dịch bệnh, cần cảnh báo sớm đến tận bản, xây dựng mạng lưới “bác sĩ cây trồng” lưu động, đa dạng sinh kế, áp dụng bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số thời tiết và phát huy lực lượng tại chỗ.

TS Khởi cho rằng, các giải pháp chỉ phát huy hiệu quả khi nguồn lực được phân bổ, lồng ghép đồng bộ, tránh tình trạng “đa mục tiêu nhưng đơn độc thực thi”. Đích đến cuối cùng không phải là số công trình hay mô hình được triển khai, mà là thu nhập, năng lực sản xuất và khả năng gắn bó lâu dài của người dân với đất, rừng và thị trường.

Tại tọa đàm do báo Dân trí tổ chức, TS Trần Đăng Khởi, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Quản trị và Chính sách thuộc Học viện Dân tộc và Tôn giáo, nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải thay đổi tư duy làm kinh tế nông nghiệp miền núi. Ông chỉ ra rằng việc thoát ly thói quen tự cung tự cấp để chuyển sang sản xuất theo nhu cầu thị trường đòi hỏi một bước chuyển căn bản trong nhận thức của người dân. Thay vì duy trì phương thức cấp phát hiện vật như con giống đơn lẻ, chính sách phát triển cần tập trung hỗ trợ chuỗi giá trị, vốn vay ưu đãi, hạ tầng kỹ thuật và kỹ năng thương mại thông qua mô hình hợp tác xã. Rào cản lớn nhất đối với mục tiêu quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung hiện nay nằm ở thực trạng đất đai manh mún và vướng mắc pháp lý kéo dài. Doanh nghiệp thiếu quỹ đất sạch để đầu tư quy mô lớn, trong khi người dân e ngại rủi ro mất quyền sử dụng đất và chính quyền địa phương lúng túng phân định giữa đất rừng với đất sản xuất. Để tháo gỡ điểm nghẽn này, chuyên gia đề xuất nghiên cứu cơ chế ngân hàng đất đai nhằm tập hợp nguồn lực đất đai chưa khai thác, đồng thời thí điểm hình thức sử dụng đất đa mục đích gắn với vai trò cầu nối của hợp tác xã. Bên cạnh giải pháp đất đai, nghịch lý người giữ rừng vẫn nghèo cũng đòi hỏi chính sách giao đất, giao rừng phải gắn liền với thời hạn sử dụng ổn định và bảo đảm sinh kế dài hạn. Nguồn lực công cần được lồng ghép đồng bộ để hỗ trợ đồng bào phát triển kinh tế dưới tán rừng, khai thác cây dược liệu và kết nối doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Thước đo hiệu quả cuối cùng của chính sách không nằm ở số lượng mô hình hình thức, mà phải được chứng minh bằng mức thu nhập thực tế tăng thêm và tính bền vững của chuỗi liên kết.
amung