Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết vừa có buổi làm việc với các cơ quan về phát huy vai trò của văn hóa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Sẽ có Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Nguyễn Huy Dũng - cho biết bộ đang nỗ lực phát huy vai trò của văn hóa đối với tăng trưởng theo hai hướng: phát triển kinh tế văn hóa, công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế có năng lực cạnh tranh và đưa văn hóa, thiết kế, sáng tạo, bản sắc Việt Nam thấm sâu vào từng sản phẩm, dịch vụ, điểm đến và không gian đô thị của các ngành, lĩnh vực.
Ông Dũng cho biết bộ xác định ba giải pháp đột phá trong năm 2026 gồm thể chế, đổi mới phương thức quản lý và hình thành các cực tăng trưởng. Theo đó, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được bộ xây dựng, dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10, với 6 nhóm chính sách nhằm hoàn thiện thể chế, kết nối các khâu trong chuỗi giá trị và khơi thông nguồn lực đầu tư.
Dự kiến trong tháng 9 và 10, bộ sẽ làm việc với một số địa phương chủ lực như Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Quảng Ninh, Ninh Bình, TPHCM và các doanh nghiệp lớn để xác định những sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm ở quy mô quốc gia, có khả năng tạo doanh thu, thu hút khách quốc tế và hướng tới xuất khẩu.
Ông Đặng Xuân Phương - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - cho rằng việc hoàn thiện chính sách, pháp luật cho lĩnh vực văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành chuỗi giá trị sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ văn hóa.
Theo ông, cần khắc phục các khoảng trống thể chế và hệ sinh thái văn hóa, giải quyết sự thiếu gắn kết đồng bộ giữa thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động các nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo thành sức sản xuất và động lực phát triển mới.
Trong số các nhiệm vụ đặt ra về hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, ông Phương cho biết cần sửa đổi các luật liên quan hiện hành như Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, đồng thời nghiên cứu xây dựng các luật mới về hoạt động nghệ thuật, công nghiệp văn hóa, văn học.
Nhấn mạnh vai trò của dự án Luật phát triển Công nghiệp văn hóa, theo ông Phương, luật sẽ tạo lập khung pháp lý kiến tạo, củng cố và phát triển toàn bộ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, khắc phục các khoảng trống pháp lý còn phân tán…
Thay đổi cơ chế đặt hàng để tạo ra các sản phẩm có giá trị xã hội cao
Phó Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) Đỗ Thanh Hải chia sẻ mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% tổng sản phẩm trong nước vào năm 2030 đòi hỏi không chỉ sản xuất thêm nhiều sản phẩm văn hóa, mà phải từng bước hình thành một nền kinh tế sáng tạo của Việt Nam.
Trong đó có những thương hiệu và tài sản trí tuệ có giá trị do Việt Nam chủ động sáng tạo, sở hữu và khai thác.
Trong quá trình đó, VTV xác định chuyển mạnh từ truyền thông về văn hóa sang tham gia kiến tạo giá trị từ văn hóa, từ sản xuất chương trình sang phát triển tài sản nội dung, từ phát sóng sang phân phối đa nền tảng, từ chủ yếu dựa vào quảng cáo sang từng bước hình thành nhiều nguồn thu từ nội dung và bản quyền.
Ở góc độ người làm chuyên môn, Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - nhấn mạnh cần chuyển mạnh tư duy từ "đầu tư cho văn hóa" sang nhìn nhận đúng vai trò của công nghiệp văn hóa - ngành tạo ra giá trị gia tăng, giải quyết việc làm, tạo nguồn thu và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.
Theo bà Lan, điện ảnh có thể phát triển mạnh mẽ và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Theo bà, thời gian vừa qua, thị trường điện ảnh Việt Nam có tín hiệu khởi sắc. Thị phần phim Việt có thời điểm đạt 62%, trong khi nhiều năm trước thị phần phim ngoại chiếm tới 60%-70%). Tuy nhiên, để phát huy được, cần phải vượt qua nhiều hạn chế và thách thức.
Phân tích một số yếu tố, bà Lan cho rằng thị trường tăng trưởng nhanh nhưng năng lực sản xuất, hạ tầng kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống dữ liệu và khả năng phát hành quốc tế chưa theo kịp.
Việt Nam có nhiều cảnh quan đẹp và di sản đặc sắc nhưng chưa trở thành bối cảnh quay phim thường xuyên cho các đoàn làm phim quốc tế. Ngoài ra, số lượng phim Việt ra được thị trường quốc tế còn rất ít.
Mặc dù có những phim đạt kỷ lục doanh thu trong nước như Mưa đỏ hay các bộ phim được công chiếu thử nghiệm tại liên hoan phim, nhưng việc phát hành thương mại ra thị trường thế giới vẫn gặp nhiều trở lực.
Trong số nhiều giải pháp đặt ra, theo bà Lan, cần sớm thành lập và đưa vào vận hành thực chất Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh theo mô hình chuyên nghiệp, kết hợp nguồn lực nhà nước và xã hội hóa. Quỹ không nên phân bổ bình quân mà tập trung vào các dự án sáng tạo có giá trị văn hóa, tiềm năng tiếp cận công chúng và tham gia các chợ phim, liên hoan phim quốc tế. Cùng với đó, cần thay đổi cơ chế đặt hàng sản xuất phim của Nhà nước để tạo ra các sản phẩm có giá trị xã hội cao.
Bà Lan cũng cho rằng cần ban hành chính sách ưu đãi cạnh tranh thu hút đoàn làm phim quốc tế. Bà Lan nhấn mạnh các đoàn phim quốc tế không chỉ mang lại doanh thu trực tiếp mà còn mang theo công nghệ, kinh nghiệm, cơ hội đào tạo nhân lực và quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới.
Ngoài ra, theo bà Lan, cần đầu tư có trọng điểm cho hạ tầng kỹ thuật điện ảnh: Tập trung đầu tư cho phim trường, khâu hậu kỳ, công nghệ số và cơ sở dữ liệu. Đẩy mạnh hợp tác công - tư để thu hút các doanh nghiệp tư nhân tham gia xây dựng hạ tầng kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm xây dựng phim trường lớn từ Trung Quốc, Hàn Quốc…