Dọc tuyến đường ven biển P.Xuân Đài những ngày này, người dân tất bật đan lưới, kiểm tra lồng bè, chèo thúng ra biển chăm tôm. Những chiếc lồng nuôi được gia cố, nối nhau trên mặt nước. Sau những tháng ngày lồng bè tan tác vì bão lũ cuối năm 2025, nhịp sống ở vùng nuôi tôm hùm Sông Cầu đang dần trở lại. Tuy nhiên, với người nuôi, biển yên cũng là lúc phải chuẩn bị cho những ngày sóng gió.
Khu vực Sông Cầu, trước đây thuộc Phú Yên, từ lâu là vùng nuôi tôm hùm lớn, với hàng ngàn hộ dân sống dựa vào nghề này. Tháng 11.2025, bão Kalmaegi (bão số 13) xảy ra từ ngày 6 - 7.11, sau đó là trận lũ lớn ngày 19 - 21.11, gây thiệt hại nặng nề cho vùng nuôi thủy sản. Theo thống kê của Sở NN-MT tỉnh Đắk Lắk, tại P.Sông Cầu có hơn 61 ha ao hồ bị thiệt hại; xã Xuân Lộc có 230 ha diện tích ao bị ảnh hưởng; xã Tuy An Nam có 0,57 ha ao nuôi hư hại. Các lồng bè cũng chịu tổn thất lớn.
DỰNG LẠI LỒNG BÈ
Ông Phan Văn Tỏ (51 tuổi, P.Xuân Đài) đã có 26 năm gắn bó với nghề nuôi tôm hùm. Ngồi đan lưới cùng vợ bên vỉa hè, ông nhớ lại trận bão lũ năm ngoái khiến gia đình thiệt hại gần 400 triệu đồng, chủ yếu là tôm hùm và cá mú. "Gia đình tôi đầu tư từ 3 - 3,5 tỉ đồng cho bè nuôi tôm hùm, cá mú. Đợt bão số 13, sóng đánh hỏng bè, cuốn mất hệ thống camera, tôm chết rất nhiều. Sau bão lũ, gia đình đã kê khai thiệt hại với chính quyền địa phương", ông Tỏ kể.

“Thủ phủ” tôm hùm tái thiết sau trận lũ lịch sử năm 2025
ẢNH: HỮU TÚ
Mất mát là vậy nhưng nghề nuôi biển không dễ bỏ. Từ đầu năm đến nay, gia đình ông Tỏ tự bỏ khoảng 1,5 tỉ đồng để đóng lại lồng bè và mua con giống, bắt đầu vụ nuôi mới. Khó khăn đầu tiên là giá con giống. Theo ông Tỏ, tôm giống nhỏ bằng hạt gạo hiện có giá khoảng 40.000 đồng/con, trong khi năm 2025 chỉ khoảng 23.000 - 30.000 đồng/con. Với quy mô 100 ô lồng, tổng diện tích khoảng 2.500 m², khoản chi phí đầu vào vì thế tăng đáng kể.
Bên cạnh đó, lồng bè hiện nay kết hợp nuôi hàu nên rất nặng, không thể cẩu lên bờ. Khi có dự báo bão lớn từ cấp 7 - 8 trở lên, ông Tỏ phải thuê tàu kéo bè vào vùng trảng để tránh trú. Mỗi lần di chuyển, riêng chi phí thuê tàu kéo và nhân công khoảng 10 triệu đồng. Đó là khoản tiền không nhỏ, nhưng người nuôi vẫn phải chi để bảo vệ tài sản và đàn tôm.
Ngoài gió mạnh, sóng cao, người nuôi tôm hùm còn lo ngại tình trạng thay đổi môi trường nước. Mưa lớn kéo dài làm lượng nước ngọt từ các cửa sông Kỳ Lộ đổ ra vùng vịnh nuôi. Nước thay đổi đột ngột có thể ảnh hưởng đến tôm hùm, thậm chí khiến tôm chết.

Lồng bè tôm hùm của người dân ở P.Xuân Đài, Đắk Lắk
ẢNH: HỮU TÚ
Theo ông Tỏ, môi trường đáy biển cũng là vấn đề đáng lưu ý. Một số hộ nuôi vẫn còn thói quen vứt bao bì thức ăn xuống biển. Rác chìm xuống đáy, phân hủy làm giảm ô xy. Khi thời tiết thay đổi hoặc biển động, các chất tích tụ dưới đáy có thể bị khuấy lên, làm môi trường nước xấu đi, ảnh hưởng đến tôm.
Những kinh nghiệm ấy được người nuôi tích lũy qua từng mùa biển động. Chuẩn bị ứng phó bão không chỉ là gia cố lồng bè mà còn phải tính đến thời điểm di chuyển, vị trí trú tránh và chất lượng môi trường nước. Tuy vậy, khả năng tự xoay xở của từng hộ vẫn có giới hạn, nhất là khi rủi ro xảy ra trên diện rộng.
SẮP XẾP LẠI VÙNG NUÔI, CHIA SẺ RỦI RO
Từ thực tế nói trên, việc tổ chức lại vùng nuôi được ngành chức năng xác định là một trong những giải pháp lâu dài. Ông Đào Quang Minh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Đắk Lắk, cho biết cơ quan quản lý đang cập nhật, điều chỉnh Đề án 190, xây dựng lộ trình đến năm 2030 để sắp xếp, di dời lồng bè vào những khu vực phù hợp với thực tế và quy hoạch chung của tỉnh.

Lồng bè của người dân hư hỏng sau đợt bão lũ năm ngoái
ẢNH: HỮU TÚ
Theo ông Minh, khi các vùng nuôi được sắp xếp theo quy hoạch rõ ràng, cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ hướng dẫn cụ thể về đối tượng, loại hình nuôi và lịch mùa vụ thả giống phù hợp từng khu vực. Ngay từ đầu năm 2026, Chi cục Thủy sản và Biển đảo đã ban hành văn bản hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, đồng thời triển khai kế hoạch phòng, chống thiên tai chuyên ngành. Các khuyến cáo tập trung vào việc giúp người dân bảo vệ lồng bè, con giống và hạn chế rủi ro khi xảy ra thiên tai hoặc sự cố môi trường.
Mặt khác, còn một vấn đề vẫn chưa có lời giải là bảo hiểm cho nghề nuôi biển. Theo ông Minh, hiện trên địa bàn tỉnh chưa có doanh nghiệp bảo hiểm nào triển khai gói bảo hiểm cho nuôi trồng thủy sản. Một số doanh nghiệp từng đến khảo sát nhưng sau đó không tiếp tục triển khai do mức độ rủi ro cao và khó kiểm soát dữ liệu đầu vào.
Việc thống kê thiệt hại sau bão lũ để làm căn cứ xem xét hỗ trợ cũng gặp khó khăn. Chi cục Thủy sản và Biển đảo đã phối hợp các đơn vị liên quan cùng chính quyền xã, phường rà soát thiệt hại. Tuy nhiên, một số hộ nuôi chưa kê khai ban đầu hoặc chưa kịp thời bổ sung khi có thay đổi, khiến việc xác minh dữ liệu gốc mất nhiều thời gian.
Theo thống kê của các địa phương, Đắk Lắk hiện có 161.703 lồng, bè của 5.131 hộ nuôi trồng thủy sản. Trong đó, P.Xuân Đài có 30.309 lồng, bè của 674 hộ; P.Sông Cầu có 74.183 lồng, bè của 1.875 hộ. Trong 9 tháng năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản lồng bè ước đạt 3.143 tấn, gồm 1.730 tấn tôm hùm và 1.413 tấn cá biển.

Người dân ra thăm nom lồng bè trên vịnh biển
ẢNH: HỮU TÚ
Quy mô ấy cho thấy nghề nuôi thủy sản không chỉ là sinh kế của từng gia đình mà còn là một ngành sản xuất quan trọng của địa phương. Khi thiên tai xảy ra, thiệt hại không dừng ở những lồng bè bị cuốn trôi mà còn kéo theo nợ nần, chi phí tái đầu tư và nguy cơ đứt gãy sản xuất.
Ở vùng biển Sông Cầu, những lồng bè mới tiếp tục được dựng lên. Người nuôi trở lại với công việc quen thuộc, nhưng không còn chỉ trông vào may rủi của thời tiết. Họ theo dõi dự báo, tính toán thời điểm di chuyển lồng bè, quan tâm hơn đến nguồn nước và chuẩn bị cho những tình huống bất thường.
Để nghề nuôi tôm hùm phục hồi bền vững, nỗ lực của người dân cần đi cùng quy hoạch vùng nuôi, hướng dẫn kỹ thuật, quản lý môi trường và cơ chế chia sẻ rủi ro. Nếu không, sau mỗi mùa biển dữ, người nuôi vẫn có thể phải bắt đầu lại từ đầu. (còn tiếp)