Tại Điều 31 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP (Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội) ban hành ngày 21/8, Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 176/2025/NĐ-CP (Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về trợ cấp hưu trí xã hội).
Theo đó, Chính phủ chính thức nâng mức trợ cấp hưu trí xã hội từ 500.000 đồng/tháng lên mức 540.000 đồng/tháng. Đồng thời, Chính phủ cũng sửa đổi trình tự, thủ tục thực hiện trợ cấp hưu trí xã hội. Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/10/2026.
Người từ đủ 75 tuổi trở lên, không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng được nhận trợ cấp hưu trí xã hội (Ảnh minh họa: Dương Nguyên).
Theo quy định hiện hành, người đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường mạng đến chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố nơi cư trú (sau đây gọi chung là cấp xã).
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức xem xét, thực hiện xác thực và chuẩn hoá thông tin, quyết định và thực hiện chi trả trợ cấp hưu trí xã hội cho người đề nghị.
Theo quy định mới (có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026), người đề nghị trợ cấp hưu trí xã hội hoặc người giám hộ của họ có thể gửi Tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội (theo Mẫu số 01) đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi cư trú) bằng một trong 3 hình thức thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính sau:
Thứ nhất là gửi trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia;
Thứ hai là gửi tờ khai qua dịch vụ bưu chính;
Thứ ba là nộp trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa nào (Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp bộ, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã).
Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú tổ chức thực hiện xác thực thông tin liên quan; thẩm định, quyết định trợ cấp hưu trí xã hội. Thời gian hưởng trợ cấp hưu trí xã hội kể từ tháng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký quyết định.
Trường hợp đối tượng không đủ điều kiện hưởng chế độ, chính sách thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trường hợp người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội thay đổi nơi cư trú và đề nghị nhận chế độ chính sách ở nơi cư trú mới, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cũ quyết định thôi chi trả chế độ, chính sách tại địa bàn và có văn bản gửi kèm theo hồ sơ của người đó đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới căn cứ hồ sơ để quyết định trợ cấp hưu trí xã hội theo mức tương ứng áp dụng tại địa bàn từ tháng thôi chi trả tại nơi cư trú cũ.
Trường hợp người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội bị chết, hoặc không còn đủ điều kiện hưởng hưu trí xã hội thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định thôi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Thời gian thôi hưởng là từ tháng sau liền kề tháng người đó chết hoặc không đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về chi phí mai táng khi người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội qua đời.
Theo đó, khi người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, hoặc người đã có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, đủ điều kiện hưởng nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chưa ban hành quyết định hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khi chết thì được hỗ trợ chi phí mai táng.
Chi phí hỗ trợ này tối thiểu bằng 20 lần mức trợ cấp hưu trí xã hội, tức là 20 x 540.000 = 10.800.000 đồng.
Để nhận chi phí hỗ trợ mai táng, tổ chức, cá nhân lo mai táng cho họ có Tờ khai đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng (theo Mẫu số 03) gửi trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia, hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc, trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa nào.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Tờ khai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định hỗ trợ chi phí mai táng và tổ chức thực hiện chi trả kinh phí hỗ trợ theo quy định.