Bỏ qua điều hướng
•

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Doanh nghiệp vẫn khó khăn trong tiếp cận tín dụng

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Doanh nghiệp vẫn khó khăn trong tiếp cận tín dụng
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đánh giá doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó khăn trong tiếp cận tín dụng.

Tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIV của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước hôm qua 26.10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho rằng, trong năm 2026, diễn biến kinh tế thế giới, giá năng lượng, chính sách thương mại và lãi suất của các nền kinh tế lớn tạo sức ép đối với điều hành trong nước.

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ đã được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Doanh nghiệp vẫn khó khăn trong tiếp cận tín dụng- Ảnh 1.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn phát biểu tại hội nghị ngày 26.10

ẢNH: SBV

Dù vậy, ông Phạm Đức Ấn cho rằng, áp lực lạm phát, tỷ giá, thị trường tiền tệ vẫn lớn. "Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn trong tiếp cận tín dụng", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nói.

Để thực hiện mục tiêu năm 2026, 2027, nhất là tăng trưởng 2 chữ số, ông Phạm Đức Ấn yêu cầu, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa. Theo dõi sát diễn biến trong nước, quốc tế để phản ứng kịp thời, hài hòa giữa hỗ trợ tăng trưởng, ổn định giá trị đồng tiền và an toàn hệ thống.

Cùng đó, Thống đốc yêu cầu phải hướng tín dụng vào sản xuất, kinh doanh và các động lực tăng trưởng; tháo gỡ khó khăn tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, người dân, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Mở rộng tín dụng phải gắn với chất lượng, kiểm soát rủi ro và an toàn hệ thống.

Ông cũng yêu cầu nâng cao năng lực quản lý, thanh tra, giám sát; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, chủ động nhận diện và xử lý rủi ro, giữ ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Cuộc đua lãi suất huy động "hạ nhiệt", lãi suất thực tế vẫn cao

Trong hơn 1 tuần qua, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước liên tục có công văn thúc các ngân hàng giảm mặt bằng lãi suất.

Ngày 18.10, tại văn bản số 9608, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cầu các ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; tuyệt đối không đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh, gây bất ổn đến an ninh tài chính - tiền tệ.

Cùng đó, giảm lãi suất cho vay khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5 - 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.

Bên cạnh lãi suất, Ngân hàng Nhà nước cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, các khách hàng, nhóm khách hàng có dư nợ lớn.

Tiếp đó, ngày 21.10, tại Công văn số 9736, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục yêu cầu các ngân hàng thương mại triển khai quyết liệt nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Theo đó, các ngân hàng phải giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của những giao dịch phát sinh mới đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong những tháng cuối năm 2026, so với mức của chính ngân hàng tại kỳ báo cáo từ ngày 11 - 20.10.

Để tránh tình trạng giảm trên biểu lãi suất nhưng hiệu quả thực tế không tương xứng, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi số liệu bình quân của các giao dịch phát sinh mới thông qua hệ thống báo cáo thống kê.

Trường hợp không thực hiện chỉ đạo, ngân hàng có thể bị áp dụng biện pháp xử lý nghiêm, bao gồm xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Sau chỉ đạo của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, hơn 20 ngân hàng đã thực hiện giảm lãi suất huy động. Tuy nhiên, lãi suất huy động thực tế theo khảo sát vẫn đang cao hơn 1 - 3% so với biểu niêm yết thông qua các ưu đãi trên ứng dụng ngân hàng.

Diễn biến lãi suất của các ngân hàng trong tháng 9.2026

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, trong tháng 9, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đối với các khoản tiền gửi mới và cũ ở mức 0,1 - 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng.

Đối với kỳ hạn từ 1 - 6 tháng, mức lãi suất huy động là 4,1 - 4,6%/năm; 6,6 - 8,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng.

Đối với kỳ hạn từ 12 tháng - 24 tháng, mức lãi suất là 6,2 - 7,8%/năm và 7,4 - 8,2%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Trong khi đó, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,4 - 10,9%/năm. 

Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,0%/năm, bằng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIV, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhận định cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận dòng vốn tín dụng. Dù chính sách tiền tệ thời gian qua đã duy trì sự chủ động và linh hoạt nhằm giữ vững ổn định vĩ mô, các áp lực từ lạm phát, tỷ giá cùng biến động kinh tế toàn cầu vẫn đang đè nặng lên mục tiêu tăng trưởng. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn dòng tiền và hỗ trợ các mục tiêu kinh tế giai đoạn 2026 - 2027, nhà điều hành yêu cầu toàn hệ thống hướng mạnh tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh cùng các động lực then chốt. Việc mở rộng quy mô giải ngân phải đi đôi với kiểm soát chặt chẽ chất lượng nợ và tăng cường giám sát an toàn hệ thống, kiên quyết siết chặt rủi ro ở những phân khúc tiềm ẩn nguy cơ hoặc khách hàng có dư nợ quá lớn. Song song đó, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp ban hành các văn bản chỉ đạo quyết liệt nhằm hạ nhiệt mặt bằng lãi suất huy động và cho vay. Theo văn bản số 9608 và Công văn số 9736, các tổ chức tín dụng phải giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi từ kỳ hạn 6 tháng trở lên, đồng thời phấn đấu giảm từ 1,5 đến 2%/năm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Cơ quan quản lý sẽ trực tiếp giám sát số liệu bình quân từ các giao dịch phát sinh mới để bảo đảm chính sách giảm lãi suất đi vào thực chất thay vì chỉ mang tính hình thức trên biểu niêm yết.
amung