
Từ năm 2024, sau khi một số lô sầu riêng Việt Nam bị cảnh báo cadimi vượt ngưỡng, Trung Quốc bắt đầu siết chặt kiểm soát - Ảnh: Tuổi Trẻ
Từ năm 2024, sau khi một số lô sầu riêng Việt Nam bị cảnh báo cadimi (cadmium - Cd) vượt ngưỡng, Trung Quốc bắt đầu siết chặt kiểm soát. Đầu năm 2025, yêu cầu tiếp tục được nâng lên - sầu riêng nhập khẩu phải có kết quả kiểm nghiệm cả cadimi và vàng O (auramine O), một chất màu công nghiệp bị cấm dùng trong thực phẩm.
Việc kiểm nghiệm phải được thực hiện tại các phòng thử nghiệm được phía Trung Quốc công nhận. Không đáp ứng yêu cầu thì không thể thông quan.
Nông sản xuất khẩu phải thỏa những quy định khắt khe
Những biện pháp ấy đã buộc cả chuỗi trồng trọt, đóng gói và xuất khẩu phải thay đổi. Chỉ trong khoảng một năm, số phòng kiểm nghiệm cadimi và vàng O được phía Trung Quốc công nhận tại Việt Nam đã tăng từ khoảng 30 lên 50.
Câu chuyện trái sầu riêng xuất khẩu chỉ là một ví dụ. Gần như tất cả các nông phẩm để xuất khẩu được đều phải thỏa mãn các quy định khắt khe về an toàn thực phẩm. Và điều đó không chỉ áp dụng riêng đối với hàng hóa từ Việt Nam. Tại sao các nước nhập khẩu dựng lên các quy định như vậy? Lý do rất đơn giản và rõ ràng: họ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng của họ.
Vậy những trái sầu riêng bán cho người trong nước thì sao? Mua một trái sầu riêng ở chợ, người tiêu dùng khó biết nó đã được kiểm cadimi hay vàng O chưa, trồng ở đâu, đã sử dụng những hóa chất gì và nếu phát hiện có vấn đề thì có thể truy ngược đến nơi sản xuất hay không.
Không phải thị trường nội địa thiếu quy định. Chúng ta có Luật An toàn thực phẩm, các quy chuẩn về kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y và các chương trình giám sát. Vấn đề không hẳn là có hay không có tiêu chuẩn, mà là mức độ bảo đảm những tiêu chuẩn ấy thực sự được áp dụng từ nơi sản xuất đến bàn ăn.
Chuỗi xuất khẩu vận hành khá hiệu quả nhờ ba điều: hàng hóa buộc phải thông qua những điểm kiểm soát; lô hàng có thể truy về vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói và khi vi phạm, hậu quả sẽ gắn với một chủ thể cụ thể: mã số có thể bị đình chỉ, hàng bị trả về, thậm chí mất thị trường.
Thị trường nội địa khó kiểm soát hơn: hàng hóa đi qua nhiều ngả, vi phạm khó truy rõ chủ thể chịu trách nhiệm. Do vậy, hậu quả kinh tế đối với nơi gây ra vi phạm thường không rõ ràng và không tức thời như đối với hàng xuất khẩu.
Mặt khác, cũng khó áp dụng nguyên xi tiêu chuẩn xuất khẩu cho thị trường trong nước. Một hộ nông dân có vài công đất không thể gánh cùng một hệ thống hồ sơ, kiểm nghiệm và chứng nhận như doanh nghiệp xuất khẩu.

Một nền nông nghiệp sản xuất ra thực phẩm an toàn cũng là nền nông nghiệp an toàn hơn cho người sản xuất, đất, nước và các hệ sinh thái xung quanh - Ảnh: HỮU HẠNH
Ít nhất ba việc có thể làm với nông sản trong nước
Thứ nhất, tạo những "cửa khẩu nội địa" tại các điểm tập trung hàng hóa. Nông hộ thì có hàng triệu, nhưng thực phẩm phân phối trên thị trường tập trung phần lớn qua một số đầu cầu như chợ đầu mối, siêu thị, bếp ăn tập thể. Những nơi này có thể từng bước yêu cầu hàng hóa nhập vào phải có thông tin nguồn gốc, lấy mẫu theo mức độ rủi ro và công khai kết quả theo nhà cung cấp. Bếp ăn trường học nên đi trước, vì ở đó Nhà nước có trách nhiệm đặc biệt trong việc bảo vệ trẻ em.
Thứ hai, kiểm soát hóa chất ngay từ đầu chuỗi. Số đại lý thuốc bảo vệ thực vật và phân bón ít hơn số nông hộ rất nhiều. Nếu việc bán những nhóm hóa chất cần kiểm soát được số hóa và gắn với người mua, vùng sản xuất, cơ quan quản lý sẽ có thêm dữ liệu để nhận diện nơi có nguy cơ cao, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào sổ sách của từng nông hộ. Đồng thời phải kiểm soát chặt thị trường hóa chất nông nghiệp bất hợp pháp.
Thứ ba, với nông hộ nhỏ, có thể thay những chứng nhận tốn kém bằng cơ chế cam kết đơn giản nhưng có trách nhiệm. Mã QR đi kèm sản phẩm có thể cho biết nơi sản xuất và những cam kết cơ bản về hóa chất sử dụng và thời gian cách ly. Khai sai thì bị xử lý đồng thời nguồn vi phạm phải được lấy mẫu thường xuyên hơn và chịu chi phí kiểm nghiệm. Như vậy nguồn lực kiểm tra có thể tập trung vào đúng nơi có nguy cơ, thay vì cố gắng kiểm tra mọi người như nhau.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với hướng quản lý an toàn thực phẩm hiện nay: quản lý theo nguy cơ, tăng hậu kiểm, sử dụng dữ liệu và xác định trách nhiệm theo chuỗi.
Còn một lợi ích lớn nhưng thường ít được nhắc tới: thực phẩm an toàn không chỉ bảo vệ người tiêu dùng mà còn bảo vệ người sản xuất và môi trường nơi thực phẩm được tạo ra.
Khi thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ít hơn và đúng cách hơn, người hưởng lợi đầu tiên là người trực tiếp phun thuốc, gia đình và cộng đồng của họ. Ít hóa chất hơn cũng có nghĩa là ít chất độc đi vào đất và nguồn nước, giảm tác động lên thủy sinh vật, côn trùng có ích và đa dạng sinh học đồng ruộng.
Cadimi trong nông sản cũng là câu chuyện của môi trường sản xuất. Đây là kim loại có sẵn trong tự nhiên, nhưng sự tích lũy trong đất và cây trồng có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó một số loại phân bón chứa cadimi là nguồn cần được kiểm soát.
Tương tự, kiểm soát kháng sinh trong nuôi thủy sản không chỉ làm con tôm, con cá an toàn hơn mà còn giảm lượng kháng sinh phát tán ra môi trường và giảm nguy cơ hình thành, lan truyền vi khuẩn kháng thuốc.
Nhìn theo cách đó, an toàn thực phẩm, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe hệ sinh thái không phải là 3 câu chuyện riêng biệt. Một nền nông nghiệp sản xuất ra thực phẩm an toàn cũng là nền nông nghiệp an toàn hơn cho người sản xuất, đất, nước và các hệ sinh thái xung quanh.
Và có lẽ đã đến lúc chúng ta nhìn thị trường nội địa theo một cách khác. Hơn 100 triệu người tiêu dùng Việt Nam chính là "thị trường xuất khẩu" lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam, chỉ khác là hàng hóa không phải đi qua cửa khẩu.
Nếu một container sầu riêng trước khi xuất qua biên giới phải chứng minh rằng nó đáp ứng các yêu cầu an toàn đối với người tiêu dùng nước ngoài, thì thực phẩm đi từ ruộng vườn, ao nuôi đến bữa cơm của các gia đình Việt Nam cũng xứng đáng được bảo đảm bằng một hệ thống đáng tin cậy.
Vàng O là gì?
Vàng O (Auramine O, hay Basic Yellow 2) là một chất màu tổng hợp dùng trong công nghiệp và phòng thí nghiệm. Chúng không có sẵn trong tự nhiên và không được phép sử dụng trong thực phẩm.
Các đánh giá độc chất học cho thấy Auramine O có khả năng gây tổn thương vật liệu di truyền và có nguy cơ gây ung thư. Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) xếp Auramine vào nhóm 2B, có thể gây ung thư ở người.
Vàng O được phát hiện trong sầu riêng có thể liên quan đến các công đoạn sau thu hoạch hoặc nhiễm từ vật liệu tiếp xúc, đóng gói. Một nghiên cứu tại Việt Nam phát hiện vàng O chủ yếu ở vỏ sầu riêng chứ không phải phần cơm quả và ghi nhận khả năng nhiễm từ một số loại bao lưới màu.
Tỉnh Khánh Hòa giao Công an tỉnh điều tra, xử lý trường hợp sai lệch, giả mạo hoặc sử dụng mã vùng trồng sầu riêng không đúng quy định.