Tại phiên tham luận chuyên sâu Nhận diện các động lực tăng trưởng mới trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa thu 2026 chiều 28/10, PGS.TS Lê Quốc Cường đặt vấn đề: “Vì sao thành phố cần một vành đai thay vì tiếp tục phát triển dựa trên các khu công nghiệp, công viên phần mềm, khu công nghệ cao riêng lẻ?”.
Theo ông Cường, TPHCM đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, với tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 50% vào năm 2025 và 60% vào năm 2030. Tuy nhiên, giai đoạn 2016-2024, chỉ số này bình quân chỉ đạt 4-5% mỗi năm. Với mô hình không gian hiện hữu, việc thu hẹp khoảng cách để đạt mục tiêu là rất khó khăn.
Ông Cường cho rằng sự phân tán không gian khiến các nguồn lực khó liên kết. Điển hình, Khu Công nghệ cao TPHCM đạt giá trị sản xuất 23 tỷ USD, tạo 53.600 việc làm nhưng năng lực nội sinh còn hạn chế. Khối FDI chiếm chưa đến 50% số dự án nhưng đóng góp tới 93% kim ngạch xuất khẩu.
Thực tế này cho thấy tăng trưởng chưa đi đôi với năng lực của doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, cần đổi mới thước đo phát triển, chú trọng hiệu quả đầu tư R&D, mức độ liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và kết quả thương mại hóa, thay vì chỉ nhìn vào vốn và đầu tư.
Đề xuất Vành đai công nghệ 6 cực chức năng
Từ kinh nghiệm của 6 nền kinh tế châu Á và không gian phát triển mới sau ngày 1/7/2025, khi TPHCM có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 50.000 ha sau hợp nhất, PGS.TS Lê Quốc Cường đề xuất xây dựng Vành đai công nghệ gồm 6 cực chức năng chuyên biệt.
Cụ thể, cực tri thức gắn với ĐHQG TPHCM tại Thủ Đức và Dĩ An, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển tri thức. Cực công nghệ cao lấy Khu Công nghệ cao hiện hữu làm trọng tâm, phát triển các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học và vật liệu mới.
Cực sản xuất tiên tiến định hướng chuyển đổi các khu công nghiệp lớn tại Bình Dương cũ thành trung tâm sản xuất công nghệ cao, sản xuất thông minh. Cực đổi mới sáng tạo và tài chính tại Thủ Thiêm hướng tới trở thành trung tâm tài chính quốc tế, kết nối nguồn vốn với hoạt động R&D, khởi nghiệp và thương mại hóa.
Hai cực còn lại gồm logistics toàn cầu tại Cái Mép - Thị Vải và Cần Giờ; kinh tế xanh, kinh tế biển dọc ven biển Cần Giờ - Vũng Tàu, hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Vành đai này sẽ vận hành dựa trên 6 lớp kết nối gồm hạ tầng vật lý, hạ tầng số, khoa học - công nghệ, kinh tế, thể chế và quốc tế; đồng thời thúc đẩy 6 dòng chảy: tri thức - nhân lực, công nghệ, vốn, đổi mới sáng tạo, logistics và dữ liệu - liên kết toàn cầu.
Ông Cường nhấn mạnh: “Mức độ liên thông chứ không phải sự gần gũi về địa lý sẽ quyết định sức mạnh và hiệu quả của vành đai”.
Khung quản trị IICF và lộ trình thực hiện đến năm 2075
Qua kinh nghiệm quốc tế từ Hsinchu, Daedeok và JTC Singapore, PGS.TS Lê Quốc Cường cho rằng các mô hình thành công tại châu Á đều có thiết chế điều phối rõ ràng. Nếu thiếu đầu mối này, các cực chức năng khó liên kết và vận hành thành một hệ thống thống nhất.
Để hiện thực hóa Vành đai công nghệ, ông đề xuất khung quản trị tích hợp đổi mới sáng tạo (IICF) gồm 7 cấu phần, dựa trên 3 trụ cột: kết nối vốn; kết nối công nghệ - đổi mới sáng tạo và khung khổ hợp tác.
Theo đó, Hội đồng điều phối vành đai được tổ chức theo mô hình đa bên, giữ vai trò điều phối chiến lược, không thay thế chức năng quản lý chuyên ngành của cơ quan nhà nước. Vành đai cũng hướng tới kết nối quốc tế theo 3 vòng: Tiểu vùng Mê Kông (GMS), ASEAN và toàn cầu, với Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (C4IR) làm đầu mối.
Lộ trình triển khai gồm 3 giai đoạn: 2026-2030 thí điểm thể chế, thành lập Hội đồng điều phối và thiết lập nền tảng R&D; 2030-2045 mở rộng có kiểm soát; 2045-2075 hướng tới hình thành siêu vùng khoa học - công nghệ thuộc top 100 cụm hàng đầu thế giới theo WIPO, đồng thời đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Ông Cường nhấn mạnh, để mô hình thành công cần có thiết chế điều phối vùng hiệu quả, cơ chế sandbox thực chất và sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể. Giá trị của Vành đai công nghệ không nằm ở quy mô từng cực riêng lẻ mà ở chất lượng kết nối giữa các cực.