Bỏ qua điều hướng
•

Vì sao nhiều nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở mẫu thử phòng thí nghiệm?

Vì sao nhiều nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở mẫu thử phòng thí nghiệm?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ hùng hậu cùng hàng nghìn công bố khoa học mỗi năm, nhưng không ít nghiên cứu tại các đại học kỹ thuật vẫn khó vượt qua 'thung lũng chết' để đi vào dây chuyền sản xuất thực tế.

Khi quy trình nghiên cứu bị đứt đoạn

Sáng 19.10, Học viện Kỹ thuật quân sự (Bộ Quốc phòng) tổ chức hội thảo về khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại.

Vì sao nhiều nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở mẫu thử phòng thí nghiệm? - Ảnh 1.

TS Dương Minh Hải, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Bộ Quốc phòng

ẢNH: ĐỖ HUY HOÀNG

Làm sao các đề tài nghiên cứu trong các trường đại học về kỹ thuật, công nghệ không chỉ dừng lại ở mẫu thử phòng thí nghiệm là một bài toán lớn được các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục đại học thẳng thắn mổ xẻ tại hội thảo.

Theo TS Dương Minh Hải, Cục trưởng Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng), Học viện Kỹ thuật quân sự hiện là một trong những đơn vị có tiềm lực khoa học đứng đầu toàn quân. Tuy nhiên, một trong những vấn đề mà học viện cần khắc phục là danh mục nhiệm vụ khoa học vẫn có biểu hiện phân tán. Các nhiệm vụ thiếu sự nối tiếp để hoàn thiện, thử nghiệm, tích hợp; chưa có quy chế khai thác dùng chung phòng thí nghiệm hiệu quả.

Một vấn đề khác là sự tham gia của cơ quan đặt hàng, đơn vị sử dụng và cơ sở sản xuất chưa đầy đủ ngay từ giai đoạn đầu; khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm đưa vào trang bị vẫn còn đáng kể.

Theo PGS Trương Việt Anh, Trưởng ban Khoa học Công nghệ, ĐH Bách khoa Hà Nội, những nhược điểm trên cũng là thực trạng chung của các cơ sở giáo dục ĐH kỹ thuật và công nghệ trong nước. 

Vì sao nhiều nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở mẫu thử phòng thí nghiệm? - Ảnh 2.

PGS Trương Việt Anh, Trưởng ban Khoa học Công nghệ, ĐH Bách khoa Hà Nội

ẢNH: ĐỖ HUY HOÀNG

4 điểm yếu cốt lõi của hệ sinh thái ĐH hiện nay gồm: năng lực nghiên cứu còn phân tán; thiếu khâu chế thử - kiểm chuẩn và nguồn vốn nối tiếp giai đoạn sau nghiên cứu; hoạt động chuyển giao chưa chuyên nghiệp; đặc biệt là thiếu người chịu trách nhiệm đến sản phẩm cuối cùng.

Về cơ bản, các trường đã cơ bản hình thành được nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và danh mục tài sản trí tuệ. Nhưng nguồn lực hiện mới khởi tạo chủ yếu ở đầu vào của chuỗi giá trị công nghệ (tức là dừng lại ở mức độ sẵn sàng công nghệ TRL 3 - 4, chứng minh nguyên lý và mẫu thử quy mô phòng thí nghiệm). 

"Khả năng chuyển tiếp giữa các công đoạn trong chuỗi công nghệ vẫn là thách thức lớn", PGS Trương Việt Anh nhận định.

Làm sao vượt qua "thung lũng chết"

TS Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục Quản lý công nghệ, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, cũng chỉ ra hạn chế bao trùm là sự mất cân đối giữa nghiên cứu lý thuyết hàn lâm và ứng dụng thực tiễn. Một bộ phận đề tài vẫn dừng ở bài báo khoa học hoặc mô hình phòng thí nghiệm.

Khi chuyển giao từ phòng nghiên cứu sang dây chuyền của các nhà máy quốc phòng, rào cản lớn nhất là "sự thiếu đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế so với năng lực gia công cơ khí thực tế tại cơ sở, kết hợp với cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính chưa hoàn thiện, vô hình trung tạo ra một khoảng trống chia cắt, cản trở lớn tới quá trình đưa sản phẩm từ nghiên cứu vào sản xuất hàng loạt".

Vì sao nhiều nghiên cứu khoa học chỉ dừng ở mẫu thử phòng thí nghiệm? - Ảnh 3.

PGS Mai Quang Huy, Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự

ẢNH: ĐỖ HUY HOÀNG

PGS Mai Quang Huy, Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, gọi khoảng cách từ kết quả nghiệm thu đề tài đến sản phẩm có thể sử dụng thực tế là "thung lũng chết" của công nghệ.

Để chuyển từ "làm nghiên cứu" sang "tạo ra giá trị từ nghiên cứu" không chỉ là thay đổi quy trình mà sâu xa hơn là thay đổi quan niệm về mục tiêu của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. 

Chất lượng học thuật không phải đích đến biệt lập mà là điều kiện để hoàn thành những nhiệm vụ khó; ngược lại, sứ mệnh không phải lý do để hạ thấp chuẩn mực khoa học.

Sản phẩm quốc phòng hay công nghệ cao sau khi rời phòng thí nghiệm đều phải trải qua hàng loạt khâu khắc nghiệt: chế thử, thử nghiệm môi trường, đánh giá độ tin cậy, chuẩn hóa, tích hợp và bảo đảm kỹ thuật. 

Do đó, nếu nhà trường chỉ quản lý đầu ra và coi việc "nghiệm thu đề tài" là kết thúc thì sản phẩm sẽ nằm lại trong ngăn kéo.

PGS Mai Quang Huy nêu vấn đề: "Bên cạnh câu hỏi đề tài đã hoàn thành nội dung và tạo ra kết quả gì?, cần đặt câu hỏi quyết định hơn: kết quả ấy tạo ra giá trị gì, cho ai, được chuyển hóa bằng con đường nào và có thể tiếp tục phát triển ra sao?". 

Khoảng cách từ kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến dây chuyền sản xuất thực tế đang là rào cản lớn đối với các trường đại học kỹ thuật trong nước. Tại hội thảo do Học viện Kỹ thuật quân sự tổ chức, các chuyên gia nhận định nhiều đề tài hiện nay mới dừng lại ở mức chứng minh nguyên lý hoặc chế tạo mẫu thử quy mô nhỏ. Tình trạng thiếu vắng sự tham gia của đơn vị đặt hàng và cơ sở sản xuất ngay từ giai đoạn đầu đã khiến sản phẩm khó tìm được đầu ra ứng dụng. Theo PGS Trương Việt Anh từ Đại học Bách khoa Hà Nội, hệ sinh thái nghiên cứu đang bộc lộ bốn điểm yếu cốt lõi gồm năng lực phân tán, thiếu khâu chế thử kiểm chuẩn, hoạt động chuyển giao chưa chuyên nghiệp và thiếu người chịu trách nhiệm đến cùng. Nguồn lực đầu tư hiện mới tập trung ở đầu vào chuỗi giá trị công nghệ, tức mức độ sẵn sàng TRL 3 đến 4. Việc thiếu hụt nguồn vốn nối tiếp cùng quy chế khai thác dùng chung phòng thí nghiệm chưa hiệu quả khiến quy trình hoàn thiện công nghệ dễ bị đứt đoạn. Ở góc độ sản xuất, TS Nguyễn Hồng Sơn thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng chỉ rõ sự mất cân đối giữa nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng thực tiễn. Rào cản chuyển giao công nghệ còn nằm ở sự lệch pha giữa tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế với năng lực gia công cơ khí thực tế tại nhà máy. Cùng với cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính chưa hoàn thiện, những điểm nghẽn này tiếp tục tạo nên khoảng trống cản trở quá trình đưa sản phẩm vào chế tạo hàng loạt.
amung