Vượt bom B52, nữ giao liên đưa mật thư vào Sài Gòn bằng cách không ai ngờ
Nguồn ảnh: Tiền Phong
Giấu mật thư dưới đế giày con trai 5 tuổi, vượt trạm gác và bom B52, nữ giao liên Biệt động Sài Gòn kể chuyện sinh tử và những đồng đội mãi mãi không trở về. Người cận vệ kể phút sinh tử bảo vệ Tư lệnh Biệt động Sài Gòn Chín chiếc khăn ở Công viên Lê Thị Riêng có phải ám hiệu của chiến sĩ Biệt động ...
Những ngày giữa tháng 9, tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định (TPHCM), bà Phạm Thị Minh Nguyệt (80 tuổi) chậm rãi bước qua những kỷ vật gắn với một thời chiến tranh. Trước di ảnh những người từng sát cánh trong lực lượng Biệt động Sài Gòn, bà dừng lại, chắp tay trước ngực, nghẹn ngào nhớ về những năm tháng bom đạn và những người đã mãi mãi nằm lại.
Người nữ giao liên năm xưa lần theo từng cái tên, bức ảnh trên bảng ghi danh những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn đã ngã xuống vì độc lập tự do. (Ảnh: Nguyễn Tiến)
Từng là y tá, giao liên của Biệt động Sài Gòn, bà Nguyệt lần theo từng bức ảnh, từng cái tên trên bảng ghi danh. Mỗi gương mặt là một ký ức về những năm tháng chiến đấu và những lời hẹn gặp lại sau trận đánh nhưng rồi mãi dang dở.
Từ cô gái làm công tác cơ sở đến nữ y tá chiến trường
Năm 1962, bà Nguyệt bắt đầu tham gia phong trào cách mạng tại Mỹ Thạnh Bắc (Long An). Công việc ban đầu là đấu tranh trực diện, đào kênh, đắp cản và làm thư ký ban cán sự. Một năm sau, bà học cứu thương rồi chuyển sang phụ trách y tế.
Ở căn cứ, vật tư y tế thiếu thốn tận cùng. Băng gạc dính máu được gom lại, giặt xà phòng, nấu sôi, phơi khô rồi đưa vào lon hấp khử trùng để dùng lại. Những người ở tuyến sau luôn tự nhắc phải cố gắng vì thương binh ngoài mặt trận:
"Bộ đội ngoài mặt trận hy sinh cả xương máu, mình ở tuyến sau phục vụ đồng đội thì không có lý do gì để thoái lui cả".
Lần đầu chăm sóc thương binh nặng, tay bà run đến mức chích trượt mạch nhiều lần do ven các anh teo tóp. Nhưng những người lính chỉ cắn răng, vỗ vai an ủi ngược lại: "Cứ chích đi, anh không có đau đâu". Câu nói ấy khiến người nữ y tá trẻ rớt nước mắt vì thương đồng đội.
Bà Minh Nguyệt bồi hồi nhớ lại những năm tháng làm công tác cứu thương, tiếp nhận hàng trăm thương binh nặng từ nội thành rút ra trong đợt Mậu Thân 1968. (Ảnh: Nguyễn Tiến)
Ký ức sâu đậm nhất với bà Nguyệt là Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Trước đợt 2, các cánh quân chuẩn bị vào trận đánh lớn. Những người lính trẻ nhắn nhau: "Kỳ này nhất định gặp lại nhau trên đường tráng nhựa nhé". Nhiều người thậm chí bỏ lại mùng mền vì tin trận đánh sẽ kết thúc nhanh chóng.
Thế nhưng, chiến trường quá khốc liệt. Phần lớn họ là những người lính vừa mười tám, đôi mươi đã ngã xuống nơi cửa ngõ nội thành và không bao giờ trở về.
Trong số thương binh tiếp nhận, bà Nguyệt nhớ nhất ông Phạm Văn Tự (bộ đội địa phương). Ông bị thương rất nặng, đứt động mạch cảnh. Bà dùng kẹp pen kẹp mạch máu nhưng máu vẫn chảy ướt đẫm bộ bà ba bà đang mặc. Biết mình khó qua khỏi, ông Tự nắm tay bà dặn: "Nguyệt ơi, chắc anh chết nghen". Sau này, người em trai thứ bảy của ông cũng hy sinh ngoài mặt trận. bà kể.
Đêm B52 rải thảm trên sông Vàm Cỏ Đông
Không chỉ cứu chữa thương binh tại căn cứ, bà Nguyệt còn nhiều lần vượt sông đưa thương binh về tuyến sau. Đợt 2 Mậu Thân 1968, quân ta tấn công nội thành rồi lui quân, thương binh nhiều vô kể. Thương binh được đặt trên xuồng ba lá hoặc ghe lườn, tranh thủ bóng tối di chuyển âm thầm.
Bà Phạm Thị Minh Nguyệt nắm chặt bàn tay, bồi hồi khi nhắc lại ký ức vượt sông Vàm Cỏ Đông chở thương binh dưới mưa bom B52. (Ảnh: Nguyễn Tiến)
Một đêm cuối tháng 5/1968, khoảng 20 giờ, sau khi hoàn thành một chuyến tải thương, bà quay lại bến sông Vàm Cỏ Đông. Thấy không gian im lặng bất thường, bà dự cảm: "Kiểu im ắng này chắc lát nữa B52 rải thảm quá". Mặc đồng đội trêu trù hẻo, bà chủ động gom thuốc men, dụng cụ y tế cho vào tấm ni-lông đi mưa rồi buộc chặt bằng dây thun. Bà tính nếu rơi xuống nước, bọc thuốc này sẽ là vật nổi cứu mình.
Đúng như dự đoán, xuồng vừa ra giữa sông thì B52 trút bom. Bà ôm chặt bọc ni-lông bơi vào bờ. Nhưng vừa bò lên mặt đất, bom lại rải tiếp trên bờ.
"Lúc đó chẳng còn chỗ trốn, chỉ biết nằm rạp xuống đất. Sống sót được chỉ nhờ đạn tránh mình thôi... Mấy anh em chỉ tâm niệm một điều: cứ coi như thả mình vào cái chết để tìm ra lẽ sống", bà nhớ lại.
Đưa mật thư vào Sài Gòn bằng đôi giày trẻ nhỏ
Tháng 6/1970, bà Nguyệt chuyển sang hoạt động công khai tại Huyện ủy Đức Huệ (Long An), làm công tác vận động tản quân và xây dựng cơ sở mật.
Mỗi kỷ vật tại bảo tàng đều gợi lại trong ký ức bà Nguyệt những chuyến đi giữa lằn ranh sinh tử và tình đồng chí thắm thiết. (Ảnh: Nguyễn Tiến)
Đầu năm 1975, bà gia nhập Biệt động Sài Gòn (thuộc V16, Đoàn 195), đảm nhận nhiệm vụ đưa rước cán bộ, vận chuyển vũ khí từ căn cứ vào nội đô. Khi Chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, bà nhận mật lệnh đưa thư tới các cơ sở nội thành và dẫn đường cho Bộ Tham mưu Miền.
Một lần chuyển tài liệu và mật lệnh gắt gao đến khu vực chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh), để qua mắt hệ thống đồn bốt dày đặc, bà dắt theo con trai 5 tuổi.
“Tài liệu, thư từ, mật lệnh được tôi xếp thật mỏng, khéo léo giấu kín dưới đế giày của con trai 5 tuổi rồi dắt con đi. Qua các trạm gác, lính xét hỏi, lục soát hành lý đủ điều nhưng không ai ngờ tài liệu cơ mật của cách mạng lại nằm ngay dưới gót chân một đứa trẻ. Tài liệu sau đó được giao đến đúng điểm hẹn, an toàn”, bà Nguyệt chia sẻ.
Sau ngày hòa bình, bà Nguyệt chuyển sang công tác trong ngành y tế tại Bến Lức (Long An) đến khi nghỉ hưu năm 2002.
Hơn 20 năm sau khi nghỉ hưu, người y tá chiến trường năm xưa vẫn tiếp tục hành trình thiện nguyện, khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho người nghèo. (Ảnh: Nguyễn Tiến)
Hơn 20 năm qua, bà tiếp tục tham gia đoàn khám bệnh từ thiện thuộc Hội Chữ thập đỏ TPHCM, cùng các y bác sĩ cựu chiến binh đi khám và phát thuốc miễn phí cho người nghèo ở vùng sâu vùng xa, cũng như sang Lào và Campuchia.
Giữa tháng 9, tại Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định ở TPHCM, bà Phạm Thị Minh Nguyệt lặng lẽ bước qua những kỷ vật chiến tranh.
Ở tuổi 80, bà dừng trước di ảnh đồng đội, chắp tay, nghẹn ngào lần theo từng gương mặt, từng cái tên đã nằm lại vì độc lập, tự do.
Những bức ảnh cũ khơi lại ký ức về người nữ y tá, giao liên từng nhiều lần đi qua bom đạn, mang thương binh và mật thư giữa hiểm nguy.
Năm 1962, bà Nguyệt bắt đầu tham gia phong trào cách mạng tại Mỹ Thạnh Bắc, Long An, với những công việc đấu tranh trực diện, đào kênh, đắp cản.
Bà còn làm thư ký ban cán sự, rồi một năm sau học cứu thương, chuyển sang phụ trách y tế trong điều kiện căn cứ thiếu thốn khắc nghiệt.
Băng gạc dính máu được gom lại, giặt bằng xà phòng, nấu sôi, phơi khô, sau đó đưa vào lon hấp khử trùng để tiếp tục sử dụng.
Lần đầu chăm sóc thương binh nặng, đôi tay cô y tá trẻ run rẩy vì những mạch máu teo tóp khiến việc chích thuốc trở nên vô cùng khó khăn.
Mỗi lần chích trượt, người lính chỉ cắn răng chịu đựng, còn vỗ vai động viên ngược lại rằng bà cứ tiếp tục, anh không thấy đau.
Câu nói giản dị ấy khiến bà rơi nước mắt, bởi phía trước là những người đã chịu quá nhiều đau đớn nhưng vẫn cố trấn an đồng đội.
Ký ức ám ảnh nhất với bà là Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khi các cánh quân chuẩn bị tiến vào nội thành.
Những người lính trẻ nhắn nhau nhất định sẽ gặp lại trên đường tráng nhựa, thậm chí bỏ lại mùng mền vì tin trận đánh chóng kết thúc.
Thực tế khốc liệt hơn nhiều, khi phần lớn những chàng trai mười tám, đôi mươi ngã xuống nơi cửa ngõ nội thành, không còn cơ hội trở về.
Trong số hàng trăm thương binh bà từng tiếp nhận, ông Phạm Văn Tự để lại ký ức đặc biệt bởi vết thương quá nặng, đứt động mạch cảnh.
Bà dùng kẹp pen giữ mạch máu, nhưng máu vẫn tuôn, thấm ướt bộ bà ba, trong lúc người thương binh hiểu mình khó sống sót.
Nắm tay bà, ông Tự chỉ kịp dặn rằng có lẽ mình sẽ chết, rồi sau đó người em trai thứ bảy của ông cũng hy sinh ngoài mặt trận.
Bà Nguyệt không chỉ cứu chữa tại căn cứ, mà còn nhiều lần vượt sông đưa thương binh từ nội thành rút ra, giữa những cuộc truy kích và oanh tạc.
Sau đợt 2 Mậu Thân 1968, thương binh được đặt trên xuồng ba lá hoặc ghe lườn, âm thầm di chuyển qua sông trong bóng tối.
Một đêm cuối tháng 5/1968, sau chuyến tải thương lúc khoảng 20 giờ, bà quay lại bến Vàm Cỏ Đông và nhận thấy sự im lặng bất thường.
Đoán B52 sắp rải thảm, bà gom thuốc men, dụng cụ y tế, bọc trong tấm ni-lông đi mưa rồi buộc chặt bằng dây thun trước khi xuống xuồng.
Bà tính nếu rơi xuống nước, gói thuốc sẽ nổi, giúp mình có thêm cơ hội sống sót giữa dòng sông và những đợt bom dữ dội.
Xuồng vừa ra giữa sông, bom B52 trút xuống, bà ôm chặt bọc ni-lông bơi vào bờ, nhưng bom tiếp tục dội ngay nơi mình vừa bò lên.
Không còn chỗ ẩn nấp, bà cùng đồng đội chỉ biết nằm rạp xuống đất, phó mặc sinh tử giữa tiếng nổ rung chuyển sông Vàm Cỏ Đông.
Bà kể những người làm nhiệm vụ khi ấy đều tự nhủ phải coi mình đã bước vào cái chết, từ đó tìm thấy lẽ sống và hoàn thành công việc.
Tháng 6/1970, bà chuyển sang hoạt động công khai tại Huyện ủy Đức Huệ, mở sang một chặng đường khác trong hành trình cách mạng của mình.
Theo tiêu đề bài viết trên báo Tiền Phong, bà từng đưa mật thư vào Sài Gòn bằng đôi giày trẻ nhỏ, một cách thức kín đáo và khó ngờ.
Chi tiết ấy cho thấy công việc giao liên không chỉ cần lòng can đảm, mà còn đòi hỏi sự bình tĩnh, khéo léo, sáng tạo trước mọi vòng vây.
Từ cô gái làm công tác cơ sở đến nữ y tá chiến trường, bà Nguyệt đã đi qua nhiều nhiệm vụ, luôn đặt đồng đội và công việc lên trước bản thân.
Hôm nay, trước bảng ghi danh những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn đã hy sinh, bà lần theo từng cái tên với sự xúc động không nguôi.
Mỗi gương mặt gợi lại một lời hẹn gặp sau trận đánh, nhưng nhiều cuộc hẹn đã dang dở, chìm trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Những kỷ vật tại bảo tàng vì thế không chỉ kể chuyện quá khứ, mà còn nhắc người sau về giá trị của sự hy sinh và lòng thủy chung.