Thiết kế bản đồ công nghệ chiến lược
Trong giai đoạn phát triển mới, nếu Việt Nam tiếp tục tiêu dùng công nghệ hoặc gia công sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Đứng trước ngã rẽ này, ngày 1/7/2026, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, thay thế cho Danh mục cũ và tạo ra bước ngoặt thể chế quan trọng. Quyết định đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, bao quát toàn diện các lĩnh vực từ AI, mạng di động thế hệ sau, robot, sinh học-y sinh, năng lượng-vật liệu tiên tiến; đến chip bán dẫn, an ninh mạng-lượng tử, biển-đại dương-lòng đất, hàng không-vũ trụ, đường sắt tốc độ cao-đường sắt đô thị. Có thể thấy, Việt Nam không dừng lại ở công nghệ số mà đã mở rộng sang những lĩnh vực có khả năng hình thành năng lực sản xuất dài hạn như công nghiệp chế tạo, năng lượng, tài nguyên, hạ tầng, sinh học và không gian.
Cùng với đó, 30 sản phẩm được chia thành 2 nhóm. 22 sản phẩm đã có thị trường, có khả năng tạo tác động kinh tế trực tiếp gồm: mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt-AI chuyên ngành, AI camera xử lý tại biên, bản sao số, cloud, blockchain, 5G/5G-Advanced, robot, sản xuất thông minh, vaccine, liệu pháp tế bào, cảm biến sinh học, vật liệu tiên tiến, pin-BESS, hydrogen xanh, thiết bị điện cao áp, CCUS và UAV. Còn 8 sản phẩm là công nghệ nền tảng, tạo động lực tăng trưởng mới và tăng cường năng lực tự chủ về an ninh, quốc phòng gồm: chip chuyên dụng, công nghệ lượng tử, chế biến sâu khoáng sản và đất hiếm, thăm dò biển sâu và lòng đất, lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), vệ tinh quỹ đạo thấp và các hệ thống đường sắt tốc độ cao.
Sau gần 5 tháng ban hành Danh mục, tính đến ngày 25/9 đã có 38 nhiệm vụ công nghệ chiến lược được đề xuất, trong đó 14 nhiệm vụ được các bộ, cơ quan phê duyệt với tổng kinh phí đề xuất gần 1.800 tỷ đồng (ngân sách nhà nước chiếm hơn 80%). So với các tháng trước đó, số lượng nhiệm vụ và tổng kinh phí đã tăng vọt phản ánh mức độ huy động nguồn lực ngày càng lớn. Các nhiệm vụ tập trung vào những lĩnh vực như vệ tinh quan sát trái đất, chip RF cho UAV, đường sắt tốc độ cao và bản sao số hệ thống năng lượng, với mục tiêu nhanh chóng tạo ra những sản phẩm chiến lược đầu tiên mang nhãn hiệu “Make in Vietnam”. Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết việc phê duyệt các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, tuyển chọn các tổ chức chủ trì và ký hợp đồng thực hiện sẽ tập trung hoàn thiện trong tháng 11 và tháng 12/2026. Nhóm nhiệm vụ kéo dài 18-24 tháng sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2027-2028; nhóm nhiệm vụ thực hiện 36-60 tháng dự kiến kết thúc vào giai đoạn 2029-2031.
Những bước khởi động
Như vậy, bản đồ công nghệ chiến lược của Việt Nam về cơ bản đã được xác lập. Thách thức từ đây là chứng minh Việt Nam có thể biến những lựa chọn thành sản phẩm và giá trị thực đến đâu. Và chính con đường từ danh mục đến sản phẩm sẽ quyết định Việt Nam tham gia cuộc đua công nghệ với tư cách một thị trường tiếp nhận hay từng bước trở thành nơi tạo ra những công nghệ và sản phẩm của riêng mình. Với công nghệ chiến lược, thách thức không chỉ là tạo thêm sản phẩm, mà còn phải xây dựng được năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ đủ sâu để duy trì lợi thế lâu dài, bền vững.
Trước tình hình thực tế, Chính phủ đã yêu cầu đẩy nhanh chọn lựa tổ chức chủ trì các nhiệm vụ đã được phê duyệt và hoàn tất phê duyệt các nhiệm vụ đủ điều kiện còn lại. Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ được yêu cầu tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tăng sự tham gia của doanh nghiệp. Bộ Công thương được giao xây dựng phương án thí điểm tạo đơn hàng đầu tiên cho sản phẩm công nghệ chiến lược, trình cấp có thẩm quyền chậm nhất tháng 6/2027 (hoặc quý II/2027).
Có thể thấy, “đơn hàng đầu tiên” được kỳ vọng sẽ phá vòng luẩn quẩn của công nghệ mới khi doanh nghiệp cần khách hàng để hoàn thiện sản phẩm, trong khi khách hàng lại muốn sản phẩm đã được kiểm chứng. Thị trường ban đầu giúp doanh nghiệp có dữ liệu thực tế, tạo doanh thu, xây dựng uy tín và từng bước mở rộng kinh doanh. Tuy nhiên, về lâu dài, doanh nghiệp phải dựa vào năng lực công nghệ của chính mình để cạnh tranh, thay vì phụ thuộc vào sự hỗ trợ ban đầu.
Nguồn lực cho công nghệ chiến lược đang ngày càng được mở rộng, nhưng vốn lớn chưa đồng nghĩa với hiệu quả lớn. Quan trọng là nguồn lực phải được tập trung vào những nhiệm vụ có mục tiêu rõ ràng, đầu ra cụ thể và khả năng tạo sản phẩm, thị trường. PSG, TS Lâm Quang Vinh, Trưởng ban Khoa học và Công nghệ (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đưa ra một kinh nghiệm quốc tế: Cả Đạo luật CHIPS của Mỹ lẫn các chương trình công nghệ chiến lược của Hàn Quốc đều cho thấy thành công không đến từ việc chỉ rót tiền vào nghiên cứu đơn lẻ, mà từ xây dựng được một hệ sinh thái khép kín giữa nghiên cứu, sản xuất và đào tạo nhân lực.
Ở lĩnh vực AI, TS Nguyễn Văn Yên, Thành viên HĐTV VNPT, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “AI chủ quyền”, với các trụ cột gồm mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), trung tâm thử nghiệm quốc gia và tiêu chuẩn an toàn dữ liệu. Theo ông, làm chủ các nền tảng này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, bảo đảm an ninh dữ liệu và tạo nền móng cho ngành công nghiệp số. Trong khi đó, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam Phan Đức Trung cho rằng việc đưa hạ tầng blockchain vào danh mục công nghệ chiến lược là bước đi phù hợp xu hướng xây dựng nền kinh tế số dựa trên dữ liệu có thể xác thực được nguồn gốc - một hạ tầng nền tảng cho nhiều lĩnh vực khác chứ không chỉ riêng tài chính số.
Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được phê duyệt tại Quyết định 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm, ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; sản phẩm thương mại hóa đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%; hình thành tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ hoặc sản phẩm chiến lược, với ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Những mục tiêu này cho thấy sự chuyển dịch trong cách đánh giá, từ số lượng sang hiệu quả thực chất, thể hiện qua sản phẩm, năng lực doanh nghiệp và khả năng tham gia thị trường.
Từ nghiên cứu đến thương mại hóa, công nghệ còn cần tiêu chuẩn, thử nghiệm, sở hữu trí tuệ, nhân lực và hạ tầng để có thể đi đến thị trường. Vì vậy, thước đo cuối cùng không nằm ở số tiền đã phân bổ, mà ở giá trị được tạo ra, công nghệ lõi được làm chủ, sản phẩm có khách hàng, doanh nghiệp có khả năng mở rộng và ngày càng nhiều giá trị được tạo ra trong nước. Đây là một cuộc chạy marathon bền bỉ đòi hỏi tầm nhìn xa, sự kiên định về chính sách và cơ chế vận hành linh hoạt.
Theo Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới công bố, Việt Nam xếp hạng 43/139 quốc gia/nền kinh tế, tăng một bậc về chỉ số GII so với năm trước.
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho biết, GII đã cung cấp bức tranh tổng thể, cho thấy điểm mạnh và điểm yếu của Việt Nam trong phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm mạnh là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả, thể hiện ở việc Việt Nam duy trì hai chỉ số đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại tiếp tục dẫn đầu thế giới.
Điểm yếu là năng lực làm chủ công nghệ chưa tương xứng với thành tích xuất khẩu. Số liệu cho thấy mức độ tham gia vào chuỗi giá trị và năng lực công nghệ cần cải thiện, cần chuyển đổi từ lắp ráp sản phẩm do nước ngoài thiết kế sang tự thiết kế, sở hữu và kinh doanh công nghệ, phát triển thương hiệu trong nước và kết nối doanh nghiệp Việt với chuỗi giá trị toàn cầu.
MINH TRUNG