Khi Davis Chong Chun Shiong cùng 3 người bạn học thành lập doanh nghiệp vào năm 2012, các ngân hàng tại Malaysia đều lắc đầu từ chối cấp vốn vì cho rằng mô hình lắp điện mặt trời quá rủi ro. Bốn chàng trai khi đó gom góp được 200.000 ringgit (tương đương khoảng 1,26 tỷ đồng) từ tiền tiết kiệm và vay mượn người thân để khởi nghiệp. Suốt 2 năm đầu, Chong vẫn duy trì công việc kỹ sư ban ngày, tranh thủ buổi tối và ngày nghỉ để phát triển công ty.
CEO Tập đoàn Solarvest nhớ lại những ngày đầu lặn lội đi gõ cửa từng nhà để tiếp thị hệ thống điện mặt trời áp mái. Không ít người dân tỏ ra nghi ngờ và xem dịch vụ này là một trò lừa đảo. Bước ngoặt đầu tiên xuất hiện khi công ty chốt được đơn hàng trị giá 40.000 ringgit (khoảng 252 triệu đồng). Đó là viên gạch nền tảng để doanh nghiệp từng bước vươn lên thành một tên tuổi lớn trong ngành năng lượng tái tạo khu vực.
Theo dữ liệu từ Forbes, Solarvest hiện chiếm 30% thị phần điện mặt trời mái nhà tại Malaysia với 4.500 công trình hoàn thành. Vốn hóa thị trường của doanh nghiệp đã tăng gấp 30 lần kể từ khi niêm yết năm 2019, cán mốc 4,1 tỷ ringgit (gần 26.000 tỷ đồng).
Trong năm tài chính kết thúc vào tháng 3/2026, doanh thu công ty đạt 759 triệu ringgit (gần 4.800 tỷ đồng), còn lợi nhuận ròng tăng gấp 11 lần lên 80 triệu ringgit (hơn 500 tỷ đồng), giúp Solarvest chính thức bước vào danh sách Best Under A Billion của Forbes Asia.

Ông Davis Chong Chun Shiong, Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn Solarvest Holdings (Ảnh: Solarvest).
Bắt trúng cơn sốt trung tâm dữ liệu của các tập đoàn Mỹ
Cơn sốt hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI) đang biến Malaysia thành một trong những cứ điểm trung tâm dữ liệu phát triển nhanh nhất khu vực. Sự dịch chuyển này kéo theo nhu cầu điện toán khổng lồ và áp lực tiêu thụ năng lượng sạch để đạt mục tiêu trung hòa carbon. Đây chính là mảnh đất màu mỡ mà ban lãnh đạo Solarvest nhìn thấy và dốc sức khai thác.
Theo Forbes, Solarvest đã nhanh chóng ký kết các hợp đồng cung ứng điện trực tiếp cho loạt khách hàng doanh nghiệp hàng đầu từ Mỹ. Công ty triển khai trang trại điện mặt trời công suất 52 MW tại bang Perak cùng TNB Renewables để phục vụ hai tập đoàn sản xuất chip của Mỹ là Micron Technology và Texas Instruments. Tại bang Kedah, Solarvest sở hữu 1/3 cổ phần trong dự án 30 MW nhằm cấp điện trực tiếp cho trung tâm dữ liệu của Google.
Nhà phân tích Ahmad Maghfur Usman tại Nomura Securities nhận định nhu cầu tiêu thụ điện tại Malaysia tăng vọt chưa từng thấy trong 2 năm qua. Nhóm khách hàng trung tâm dữ liệu hiện chiếm khoảng 6-7% tổng lượng điện toàn quốc, tăng gấp đôi so với năm trước. Theo số liệu từ Bộ Chuyển đổi Năng lượng và Nước Malaysia, nhu cầu điện cực đại từ các trung tâm này dự kiến chạm mốc 8,4 GW vào năm 2030. Cơ hội kinh doanh theo đó đang mở rộng cho các đơn vị có sẵn hạ tầng sạch.
Báo Nikkei Asia dẫn số liệu cho thấy Solarvest hiện sở hữu lượng đơn hàng chờ thi công lên tới 2,5 tỷ ringgit (khoảng 15.750 tỷ đồng). Doanh nghiệp đặt mục tiêu nâng tổng giá trị đơn hàng thường niên lên 5 tỷ ringgit (hơn 31.500 tỷ đồng) trong thời gian tới. "Các trung tâm dữ liệu buộc phải có nguồn năng lượng xanh riêng. Điều này mở ra cơ hội tăng trưởng mang tính cơ cấu rất lớn cho chúng tôi", ông Chong chia sẻ trên Forbes.
Rời khỏi mái nhà, làm chủ trang trại điện nghìn tỷ
Khởi đầu với tên gọi Atlantic Blue, bốn nhà sáng lập gồm Chong, kỹ sư Lim Chin Siu cùng hai anh em Tan Chyi Boon, Tan Paw Boon sớm nhận ra việc chỉ đi lắp pin trên mái nhà dân dụng sẽ kìm hãm đà bứt phá. Muốn đi nhanh và quy mô lớn, họ cần nguồn lực tài chính vượt trội để tiếp cận các dự án lớn từ chính phủ và khối doanh nghiệp.
Năm 2017, doanh nhân Chiau Beng Teik thuộc tập đoàn Chin Hin Group rót 25 triệu ringgit (khoảng 157 tỷ đồng) để mua 45% cổ phần của Atlantic Blue. Dòng vốn chiến lược này tạo bệ phóng giúp Solarvest tham gia các gói thầu Điện mặt trời quy mô lớn (LSS) của chính phủ Malaysia. Sau khi niêm yết và lớn mạnh, Chin Hin Group đã thoái toàn bộ vốn vào năm 2024, nhường lại quyền tự chủ hoàn toàn cho nhóm sáng lập.
Không dừng lại ở vai trò một nhà thầu xây lắp thuần túy (EPCC), Solarvest bắt đầu dịch chuyển lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn. Doanh nghiệp chọn mô hình giữ lại 20-30% cổ phần tại các trang trại điện phát triển thành công. Cách làm này mang lại dòng tiền định kỳ dài hạn từ các hợp đồng mua bán điện (PPA), thay vì chỉ thu tiền xây dựng một lần. Tiêu biểu là việc công ty sở hữu 20% cổ phần tại dự án 690 MW trị giá 1,1 tỷ ringgit (gần 7.000 tỷ đồng) ở bang Perak hợp tác cùng Malakoff.
Theo Nikkei Asia, Solarvest đã bắt tay tập đoàn quản lý quỹ Brookfield của Canada để lập liên doanh trị giá 5 tỷ ringgit (hơn 31.500 tỷ đồng), nhằm phát triển 1,5 GW điện mặt trời kết hợp hệ thống pin tích năng (BESS). Song song đó, công ty dự kiến không giữ tài sản quá lâu mà sẽ thoái vốn sau 5-7 năm vận hành để thu hồi vốn đầu tư dự án mới. Mục tiêu của CEO Davis Chong là nâng tỷ trọng lợi nhuận định kỳ lên mức 30% vào năm 2029.

Trang trại điện mặt trời do Solarvest xây dựng (Ảnh: Solarvest).
Áp lực chuỗi cung ứng và tham vọng vươn tầm khu vực
Dù triển vọng kinh doanh rộng mở, hành trình mở rộng của Solarvest không hoàn toàn bằng phẳng. Biên lợi nhuận của doanh nghiệp đối mặt với nhiều biến số khó lường do phụ thuộc lớn vào nguồn cung thiết bị từ Trung Quốc. Giá tấm pin thế giới biến động liên tục bởi biến động chi phí nguyên liệu thô như bạc và silicon.
Bên cạnh đó, việc Trung Quốc bãi bỏ khoản hoàn thuế xuất khẩu 9% đối với pin mặt trời khiến giá mua đầu vào tăng lên. Tại Malaysia, chính sách thuế của Mỹ đối với các sản phẩm pin mặt trời nhập khẩu có nguồn gốc liên quan đến Trung Quốc cũng khiến một số nhà máy sản xuất phải thu hẹp quy mô. Bà Zayana Zaikariah từ Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Malaysia cảnh báo nguy cơ chuỗi cung ứng bị gián đoạn nếu hạ tầng sản xuất khu vực chịu tổn thương từ các rào cản thương mại.
Để giảm bớt rủi ro từ một thị trường đơn lẻ, Solarvest đang mở rộng mạng lưới sang 7 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tại Philippines, giá điện bán lẻ cao tạo ra biên lợi nhuận hấp dẫn cho các dự án mặt trời. Trong khi đó, các thị trường như Việt Nam và Indonesia đem lại nhiều dư địa từ các dự án quy mô lớn phục vụ công nghiệp sản xuất.
Dù hoạt động xây lắp vẫn đóng vai trò trụ cột doanh thu, tầm nhìn dài hạn của công ty lại nằm ở mảng số hóa. Từng có nhiều năm làm việc tại Intel và Dell, ông Chong muốn ứng dụng tư duy của một hãng công nghệ vào lĩnh vực năng lượng. Công ty đang phát triển các thuật toán AI để tự động hóa hoạt động sạc, xả pin lưu trữ và tối ưu hóa thời điểm chào bán điện lên lưới, hướng tới việc phân phối điện thông minh mà không cần phụ thuộc vào sự điều hành thủ công của con người.