Bỏ qua điều hướng

Chờ xung lực mới cho du lịch Việt Nam

Chờ xung lực mới cho du lịch Việt Nam
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9 của Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra ngày 10/9 đang tạo nên một khung hành động khá rõ cho du lịch Việt Nam.

Từ tăng lượng khách sang tăng giá trị

Nghị quyết số 263/NQ-CP của Chính phủ xác định đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP và đứng trong nhóm 1-3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về quy mô, tốc độ tăng trưởng du lịch. Đáng chú ý hơn các chỉ tiêu là cách đặt lại thước đo tăng trưởng. Thay vì chủ yếu nhìn vào lượng khách, số phòng hay doanh thu, các nghị quyết và chương trình hành động nhấn mạnh chất lượng, hiệu quả, tính bền vững và giá trị gia tăng. Du lịch phải tạo sức kéo cho giao thông, thương mại, văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế đêm và sinh kế cộng đồng.

Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch do Thứ trưởng Hồ An Phong ký ngày 10/9 vừa qua đặt mục tiêu đến năm 2030 phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, có khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú và 20 khu du lịch quốc gia được công nhận. Đồng thời chuyển dần sang mô hình tăng trưởng xanh, tuần hoàn. Theo dữ liệu Agoda được ông Nguyễn Trùng Khánh (Cục trưởng Du lịch Quốc gia Việt Nam) dẫn lại, sáu tháng đầu năm 2026, Việt Nam đứng thứ ba châu Á về tỷ lệ khách quay trở lại, sau Nhật Bản và Thái Lan. Tốc độ tăng khách quốc tế gần đây đạt khoảng 18-22%/năm, cao hơn mức bình quân châu Á-Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, đúng như tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, khách quay lại mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là chuyển hóa được lòng tin và sự yêu mến đó thành giá trị kinh tế thực chất, phù hợp với mục tiêu đến năm 2030 tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, với trọng tâm là thị trường khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch dự kiến xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh, thí điểm tại một số khu vực trọng điểm trước khi nhân rộng giai đoạn 2027-2030. Triển khai lộ trình loại bỏ nhựa dùng một lần tại khu, điểm du lịch và cơ sở dịch vụ ven biển, hướng tới 100% vào năm 2030. Chính phủ đồng thời đặt yêu cầu phát triển giao thông xanh, phương tiện sạch tại đô thị và đảo du lịch, gắn với quản lý năng lượng và kinh tế tuần hoàn.

Khơi thông những điểm nghẽn

Hoàn thiện chính sách được đặt ở vị trí khá rõ trong Nghị quyết 26 và các chương trình hành động. Chính phủ xác định tám nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đưa việc rà soát, đề xuất sửa đổi Luật Du lịch năm 2017, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn và chính sách nhân lực vào nhóm nhiệm vụ đầu tiên. Với cộng đồng doanh nghiệp, thể chế được coi là “đột phá của đột phá”. Hiệp hội Du lịch Việt Nam kiến nghị rà soát các quy định về đầu tư, đất đai, tín dụng, thuế. Nghiên cứu cơ chế đặc thù cho các dự án du lịch động lực, quy mô lớn. Thí điểm tổ hợp du lịch-giải trí-thương mại hoạt động 24/7 ở địa bàn phù hợp và cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng tại các trung tâm mua sắm, trung tâm du lịch lớn. Chính sách thị thực cũng cần tiếp tục mở rộng với thị trường trọng điểm, nhất là các nhóm khách MICE, nghỉ dưỡng dài ngày, chăm sóc sức khỏe.

Chia sẻ về các điểm nghẽn thuộc thẩm quyền liên ngành như: Áp giá điện dịch vụ lưu trú, cơ chế hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch hay hành lang pháp lý cho kinh tế đêm. Ông Nguyễn Trùng Khánh cho biết, chủ trương đưa giá điện của cơ sở lưu trú về ngang giá điện cho cơ sở sản xuất đã được xác lập tại Quyết định số 14/2025/QĐ-TTg, song việc triển khai chưa đồng bộ, hiệu quả thụ hưởng của doanh nghiệp lưu trú chưa như kỳ vọng. Các quy định liên quan chợ đêm, phố ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật, vũ trường... lại nằm rải rác ở nhiều văn bản được ban hành từ trước khi có chủ trương phát triển kinh tế đêm gắn với du lịch, nên chậm được sửa đổi để tạo hành lang thông thoáng hơn. Cơ chế đối tác công - tư (PPP) cũng chưa thật phù hợp với các dự án du lịch quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

Hạ tầng là một nút thắt khác. Chương trình của Bộ yêu cầu rà soát kết nối giao thông tới các cực tăng trưởng, khu vực động lực, trung tâm và khu du lịch quốc gia bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không; đồng thời huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư. Hiệp hội Du lịch Việt Nam đề xuất ưu tiên kết nối Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng với các trung tâm du lịch, cửa khẩu quốc tế và hệ thống điểm đến. Bên cạnh đó, cần phát triển thêm trung tâm thương mại, cửa hàng miễn thuế, chợ đêm, dịch vụ giải trí để tăng chi tiêu ngoài lưu trú và ăn uống.

Một điểm đáng chú ý trong Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là chuyển đổi số được xem như một phần của hạ tầng phát triển. Hiệp hội Du lịch Việt Nam xác định lấy chuyển đổi số và tăng trưởng xanh làm nền tảng. Các chương trình ứng dụng AI, VITA Green, đào tạo quản trị và nâng chất lượng sản phẩm được xem là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cách liên kết cũng cần thực chất hơn. Thay “liên kết điểm đến” theo địa giới bằng “liên kết chuỗi giá trị”, trong đó lữ hành, hàng không, lưu trú, thương mại, dịch vụ và cộng đồng cùng tham gia, để giá trị từ du lịch được giữ lại nhiều hơn ở địa phương.

Bài và ảnh: KHIẾU MINH

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7/9 của Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 10/9 đã định hình khung phát triển mới cho du lịch Việt Nam. Điểm chuyển đáng chú ý là ngành du lịch không còn chỉ đo tăng trưởng bằng lượng khách, số phòng hay doanh thu, mà hướng tới chất lượng, hiệu quả, tính bền vững và giá trị gia tăng. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45 đến 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng thu 80 đến 90 tỷ USD và đóng góp trực tiếp 10 đến 12% GDP. Cùng với khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú và 20 khu du lịch quốc gia được công nhận, mục tiêu đứng trong nhóm 1 đến 3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á đòi hỏi du lịch tạo sức kéo thực chất cho giao thông, thương mại, văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế đêm và sinh kế cộng đồng. Theo dữ liệu Agoda được Cục trưởng Du lịch Quốc gia Việt Nam Nguyễn Trùng Khánh dẫn lại, sáu tháng đầu năm 2026, Việt Nam đứng thứ ba châu Á về tỷ lệ khách quay trở lại, sau Nhật Bản và Thái Lan, trong khi tốc độ tăng khách quốc tế gần đây đạt khoảng 18 đến 22% mỗi năm. Tuy nhiên, khả năng giữ chân du khách chỉ trở thành lợi thế kinh tế khi Việt Nam thu hút hiệu quả nhóm khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, đồng thời cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Những mục tiêu trên phụ thuộc lớn vào khả năng khơi thông các điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, tín dụng, thuế, nhân lực và thị thực, vốn được cộng đồng doanh nghiệp coi là “đột phá của đột phá”. Song song với việc nghiên cứu sửa đổi Luật Du lịch năm 2017 và cơ chế cho các dự án động lực, Việt Nam dự kiến xây dựng bộ tiêu chí du lịch xanh, loại bỏ hoàn toàn nhựa dùng một lần tại các điểm du lịch và cơ sở dịch vụ ven biển vào năm 2030, qua đó chuyển dần sang mô hình tăng trưởng xanh, tuần hoàn.