Đối với nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp sản xuất, điện tử và công nghiệp công nghệ cao, chi phí vốn lớn đang là rào cản đáng kể. Trong bối cảnh đó, chính sách hỗ trợ lãi suất từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF), Bộ Khoa học và Công nghệ, như thêm một "luồng sinh khí" mới cho doanh nghiệp.
Điểm đáng chú ý là mức hỗ trợ tương đương 50% lãi suất vay trong hợp đồng tín dụng, nhưng không vượt quá 6%/năm và thời gian hỗ trợ tối đa 5 năm.
Giảm chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư
Theo NATIF, chính sách áp dụng đối với các khoản vay phục vụ dự án chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo. Nguồn vốn vay có thể được sử dụng để mua máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất; nhận chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu công nghệ; sản xuất thử nghiệm; thuê chuyên gia; đào tạo nhân lực vận hành, làm chủ công nghệ; thực hiện các hoạt động thử nghiệm, kiểm định sản phẩm.
Cách thiết kế chính sách hướng tới một trong những điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp hiện nay là chi phí đầu tư ban đầu. Một dây chuyền sản xuất mới, hệ thống tự động hóa, thiết bị phục vụ nghiên cứu và phát triển hay công nghệ mới thường đòi hỏi nguồn vốn lớn.
Theo quy định, với khoản vay có lãi suất 10%/năm, doanh nghiệp được hỗ trợ tương đương 5%/năm. Nếu lãi suất khoản vay là 14%/năm, mức hỗ trợ theo tỷ lệ 50% là 7%, nhưng doanh nghiệp chỉ được tính tối đa 6%/năm.
Trong điều kiện doanh nghiệp phải cạnh tranh ngày càng gay gắt về giá thành, chất lượng và năng suất, việc giảm một phần chi phí tài chính có thể tạo ra dư địa để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào thiết bị, công nghệ và nhân lực.
Đây cũng là vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Đại diện một doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử cho biết, chi phí vốn của doanh nghiệp trong nước hiện ở mức cao, trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có lợi thế hơn về nguồn vốn quốc tế.
Theo vị đại diện này, trong khoảng ba năm qua, chi phí vốn đã tăng đáng kể; lãi suất vay của doanh nghiệp trong nước, kể cả những doanh nghiệp có tình hình sản xuất, kinh doanh tốt, vẫn ở mức khoảng 8-10%/năm. Trong khi đó, doanh nghiệp FDI có thể tiếp cận nguồn vốn từ nước ngoài với chi phí chỉ khoảng 3-5%.
Bởi vậy, doanh nghiệp kiến nghị các chính sách hỗ trợ tài chính đã được ban hành cần sớm đi vào thực tế. Đồng thời nguồn lực tín dụng cần được ưu tiên hơn cho những lĩnh vực có nhu cầu đầu tư máy móc, tự động hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và công nghệ mới.
Để được hỗ trợ, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về khả năng trả nợ, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, cam kết sử dụng vốn đúng mục đích và có hồ sơ đề nghị hợp lệ. NATIF sẽ đánh giá tính khả thi của dự án, kế hoạch thực hiện, tiềm năng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, năng suất cũng như khả năng tạo tác động lâu dài đối với doanh nghiệp hoặc lĩnh vực sản xuất.
Các hồ sơ đủ điều kiện được ưu tiên theo thứ tự: Đã có hợp đồng tín dụng; doanh nghiệp có mức tín nhiệm tốt, không có nợ xấu; công nghệ của dự án thuộc danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ cao được ưu tiên phát triển hoặc công nghệ chiến lược; dự án có khả năng tạo mức tăng thêm giá trị gia tăng từ 7% trở lên.
Đợt 1 năm 2026 dự kiến dành 50 tỷ đồng cho chính sách này. Hai ngân hàng hợp tác với Quỹ để triển khai hỗ trợ lãi suất là VPBank và BIDV. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ đợt 1 kéo dài đến 17 giờ ngày 20/9/2026.
Từ hỗ trợ vốn đến làm chủ công nghệ lõi
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho rằng, quá trình phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam cần được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, thiết kế, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.
Theo Thứ trưởng, cùng với các chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, Bộ Khoa học và Công nghệ đang hình thành nhiều công cụ hỗ trợ doanh nghiệp từ khâu tiếp nhận, chuyển giao công nghệ đến đào tạo, chuyển giao chuyên gia và ứng dụng công nghệ.
“Quỹ đã bắt đầu triển khai dịch vụ đầu tiên là hỗ trợ lãi suất vay cho các khoản vay của doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp có thể được hỗ trợ tối đa 50% lãi suất vay của ngân hàng”, Thứ trưởng Hoàng Minh cho biết.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng, chính sách phát triển công nghệ không nên chỉ dừng ở việc nâng tỷ lệ nội địa hóa hay tỷ lệ giá trị Việt Nam trong sản phẩm. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải từng bước làm chủ được các chức năng, công đoạn và công nghệ cốt lõi.
“Giá trị cần được chuyển từ giá trị kinh tế sang giá trị về chức năng, như chức năng thiết kế, chức năng làm chủ công nghệ lõi, các phần điều khiển và hệ thống”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Đây là yêu cầu đặc biệt có ý nghĩa đối với những lĩnh vực công nghệ chiến lược như điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao. Một sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa cao nhưng doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào công nghệ lõi, thiết kế hoặc các thành phần cơ bản thì năng lực cạnh tranh dài hạn vẫn còn hạn chế.
Thực tế này cũng được doanh nghiệp nhìn nhận khá rõ. Đại diện doanh nghiệp điện tử cho rằng, muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và trở thành đối tác của các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ cạnh tranh bằng giá mà phải tạo ra giá trị thực tế thông qua năng lực công nghệ.
Theo Thứ trưởng Hoàng Minh, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hình thành các công cụ, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và những công nghệ mới. Các doanh nghiệp cần xác định cụ thể nhiệm vụ, nội dung cần hỗ trợ để tiếp cận đúng công cụ, từ nghiên cứu phát triển đến ứng dụng và thương mại hóa.
Việc dành 50 tỷ đồng trong đợt đầu để hỗ trợ lãi suất vì thế có thể xem là bước khởi đầu cho một cách tiếp cận mới. Đó là dùng nguồn lực nhà nước để giảm một phần chi phí, qua đó khuyến khích nguồn lực xã hội và nguồn vốn doanh nghiệp đổ vào đổi mới công nghệ.
ĐẠI KIM