Bỏ qua điều hướng
•

Chuyên gia nêu những câu nói bất thường cảnh báo nguy cơ tự hại ở trẻ

Chuyên gia nêu những câu nói bất thường cảnh báo nguy cơ tự hại ở trẻ
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Theo chuyên gia, một số trẻ em có dấu hiệu cảnh báo nguy cơ tự hại nhưng nhiều gia đình không để ý hoặc khi phát hiện ra thì đã muộn.

Chuyên gia nêu những câu nói bất thường cảnh báo nguy cơ tự hại ở trẻ - 1

PGS.TS Trần Thành Nam chia sẻ tại hội thảo (Ảnh: Mỹ Hà).

Những câu nói bất thường

Cách đây không lâu, một người mẹ lên mạng xã hội đăng tải thông tin tìm kiếm con trai – một cậu bé được đánh giá ngoan ngoãn, hiền lành. Cậu bé ấy đã không trở về. Em chọn một khúc sông ở Hà Nội để gửi lại những ước mơ tuổi trẻ.

Không ai biết cậu bé ấy đã nghĩ gì và có lẽ không ai hiểu hết được áp lực cậu bé ấy trải qua nhưng cách tiêu cực cậu bé chọn đã khiến nhiều gia đình lo ngại.

Chia sẻ bên lề Hội thảo: “Thực trạng và nhu cầu vị trí việc làm của nhân viên tâm lý lâm sàng tại Việt Nam”, PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho biết câu chuyện trên đây không phải trường hợp cá biệt.

Thời gian qua, nhiều sự việc trẻ em tự hại đã xảy ra, nhất là ở các thành phố lớn. Qua khảo sát một số trường học tại Hà Nội, tỷ lệ trẻ tổn thương tinh thần đến mức cần phải hỗ trợ chiếm khoảng 20%.

“Thực tế, nếu cha mẹ dành thời gian cho con, sẽ nhận thấy hành vi thay đổi của trẻ, dẫn đến các hành vi nguy cơ như câu chuyện trên đây”, theo chuyên gia tâm lý Trần Thành Nam.

Cũng theo chuyên gia này, trước khi dẫn đến hành vi tự hại thực tế, thường các em có rất nhiều dấu hiệu: Cảm thấy chán, thu mình, mất kết nối với môi trường xung quanh.

Các em có thể nói ra những câu tiêu cực: “Mọi chuyện cũng thế thôi; cố gắng đến thế cũng chỉ được như vậy; đến một lúc mọi người sẽ hối hận; rồi con cũng không thể gây thêm gánh nặng gì cho mọi người nữa đâu”…

Một số em có các hành vi thu xếp lại hành trang, cho đi một số thứ mà mình rất quý hoặc thậm chí viết một số lời dặn cho mọi người.

“Nếu bố mẹ dành thời gian để tâm đến con, sẽ nhận thấy ngay các dấu hiệu nguy hại. Tuy nhiên, nhiều người tặc lưỡi bỏ qua hoặc không để tâm, dẫn đến trẻ có hành vi thiếu kiểm soát”, chuyên gia Trần Thành Nam nói.

Chia sẻ với phóng viên Dân trí, bà Giang Ngọc Thụy Vy, chuyên gia tâm thần học, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý Trị liệu Việt Nam, cho biết bà chưa có con số chính xác ở phạm vi cả nước.

Tuy nhiên, tại phòng khám do bà phụ trách, hơn 50% khách hàng đến khám tâm lý là học sinh và tỷ lệ này đang ngày càng nhiều.

Có nhiều em bị tổn thương tâm lý nhiều năm nhưng vẫn nghĩ mình “bình thường”, đến khi em đánh bạn hoặc có một số biểu hiện tâm lý cực đoan với bạn bè, thầy cô, gia đình mới cho con đi khám.

Chuyên gia nêu những câu nói bất thường cảnh báo nguy cơ tự hại ở trẻ - 2

Bà Giang Ngọc Thụy Vy, chuyên gia tâm thần học, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý Trị liệu Việt Nam (Ảnh: Mỹ Hà).

Lạm dụng AI dễ khiến trẻ hành động tiêu cực

Chuyên gia tâm lý Trần Thành Nam cho rằng, tỷ lệ học sinh trở nên căng thẳng nhiều hơn do tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) và một số nội dung trên mạng xã hội.

Các nghiên cứu chỉ ra, khoảng 90% các bạn trẻ sử dụng AI trong học tập và cuộc sống. Nếu phó mặc và lạm dụng AI, khiến trẻ giảm khả năng tư duy, hao tổn năng lượng của não bộ.

Trẻ dành nhiều thời gian trên mạng xã hội hoặc các thông tin AI dễ gây nghiện, suy giảm khả năng nhận thức, tinh thần mệt mỏi, giảm khả năng vận động và không có các mối quan hệ xã hội.

Việc tiếp cận quá nhiều thông tin mang chất liệu bạo lực trên mạng xã hội, áp lực học tập hoặc môi trường gia đình bất an, giấc ngủ không đủ…, dễ gây cho người trẻ hành động mất kiểm soát.

Lý giải nguyên nhân, bà Thụy Vy cũng nhận định, áp lực của học sinh khởi nguồn từ mối quan hệ trong gia đình, áp lực học tập hay mối quan hệ trường lớp…

Nhiều em có điện thoại thông minh quá sớm, dễ tiếp cận các thông tin độc hại trên môi trường mạng, học tập sa sút, mối quan hệ thật ngoài đời suy giảm, dẫn đến hành động tiêu cực.

“Bố mẹ thường chỉ quan tâm con học tốt không, được mấy điểm, mà quên mất mối kết nối giữa các thành viên. Nhiều trường học có phòng tâm lý học đường nhưng ít trẻ nhận sự can thiệp bởi sợ dị nghị.

Trong khi đó nhân viên hỗ trợ tâm lý ở nước ta rất thiếu (thiếu khoảng 20 lần so với thế giới). Tôi cho rằng tổng hòa tất cả các yếu tố đó, khiến các em càng bị đẩy ra xa và rơi vào áp lực”, theo chuyên gia tâm lý Thụy Vy.

Liên quan đến giải pháp, theo chuyên gia Trần Thành Nam, tỷ lệ trẻ bị ảnh hưởng sức khỏe tinh thần khá cao nhưng tỷ lệ cần hỗ trợ còn thấp, nhiều em né tránh và e ngại.

Nếu có sự can thiệp sớm từ gia đình, nhà trường có thể giúp học sinh cân bằng tinh thần và học tập tốt.

“Việc can thiệp hỗ trợ tâm lý cho học sinh hiện chưa bài bản. Các phòng tâm lý học đường hoạt động chưa hiệu quả. Thậm chí nhiều cha mẹ, thầy cô không đủ thời gian ngồi lắng nghe tâm sự của con.

Việc hỗ trợ các em không cần cao siêu, đôi khi chỉ cần giúp các con thư giãn, lắng nghe những áp lực và thay đổi thói quen hàng ngày, đã có thể giúp các em cân bằng trong thế giới số”, PGS.TS Trần Thành Nam cho biết.

Tình trạng trẻ vị thành niên gặp khủng hoảng tâm lý dẫn đến nguy cơ tự hại đang gia tăng đáng báo động tại các đô thị lớn. Theo khảo sát tại một số trường học ở Hà Nội được PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) chia sẻ, có khoảng 20% học sinh bị tổn thương tinh thần ở mức cần can thiệp y tế. Thực tế tại phòng khám của bà Giang Ngọc Thụy Vy, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý Trị liệu Việt Nam, cũng ghi nhận học sinh chiếm hơn 50% số lượt thăm khám và con số này vẫn tiếp tục tăng. Trước khi thực hiện hành vi bột phát nguy hiểm, trẻ thường phát đi nhiều tín hiệu cảnh báo qua lời nói và cử chỉ bất thường. Đáng chú ý là những phát ngôn thể hiện sự buông xuôi như "mọi chuyện cũng thế thôi" hay "con không thể gây thêm gánh nặng gì nữa". Bên cạnh đó, các biểu hiện thu mình, dọn dẹp đồ đạc, tặng lại vật dụng quý giá hoặc để lại lời dặn dò đều là những dấu hiệu then chốt nhưng lại thường bị phụ huynh xem nhẹ. Áp lực tâm lý ở lứa tuổi học đường còn bị khuếch đại bởi thói quen lạm dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Với khoảng 90% người trẻ sử dụng AI trong học tập và đời sống, việc phó mặc cho không gian ảo làm suy giảm đáng kể năng lượng não bộ cùng khả năng tư duy độc lập. Tình trạng nghiện mạng xã hội khiến trẻ dần cô lập bản thân, mệt mỏi tinh thần và đánh mất khả năng kết nối trực tiếp với gia đình lẫn xã hội.
amung