Tại hội thảo về sụt lún, ngập lụt và giải pháp thích ứng cho TP HCM sáng 29/9, PGS. TS Lê Trung Chơn, Đại học Tài nguyên và Môi trường TP HCM, cho biết dữ liệu quan trắc cho thấy Phú Mỹ Hưng có tốc độ lún chậm so với khu Nam Sài Gòn.
Khu đô thị này cũng hiếm khi ngập, trong khi nhiều khu vực lân cận dọc các đường Huỳnh Tấn Phát, Lê Văn Lương, Nguyễn Thị Thập, Trần Xuân Soạn thường xuyên chịu cảnh nước tràn đường.
Nhận định được ông Chơn đưa ra từ nghiên cứu biến dạng mặt đất TP HCM do ông và cộng sự thực hiện. Nhóm sử dụng dữ liệu vệ tinh Sentinel-1, kết hợp kỹ thuật radar để xây dựng chuỗi quan trắc giai đoạn 2015-2025, đồng thời phát triển các mô hình phân tích nguyên nhân và dự báo sụt lún.
PGS. TS Lê Trung Chơn, Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Bền vững, Đại học Tài nguyên và Môi trường TP HCM, phát biểu tại hội thảo ngày 29/9. Ảnh: An Phương
Hơn ba thập niên trước, phần lớn khu Nam Sài Gòn là vùng đất sình lầy, dân cư thưa thớt. Theo ông Chơn, quá trình quy hoạch, xây dựng Phú Mỹ Hưng đã chú trọng giữ lại hệ thống kênh rạch, bố trí cây xanh và mặt nước. Hồ Bán Nguyệt góp phần trữ nước cho khu vực.
Ông đánh giá cách tổ chức không gian này thể hiện tư duy "thuận thiên", phát triển đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên. "Phú Mỹ Hưng là điển hình cho việc đô thị thích ứng với sụt lún, ngập lụt", ông Chơn nói.
Phân tích thêm về khả năng hạn chế ngập, TS Thiềm Quốc Tuấn, Trưởng khoa Địa chất và Khoáng sản, Đại học Tài nguyên và Môi trường TP HCM, cho rằng cốt nền là yếu tố quan trọng. Theo ông, khoảng 30 năm trước, khi quy hoạch khu đô thị, các chuyên gia tính toán đỉnh triều ở mức 1,5 m và chọn cao độ nền xây dựng 2 m.
Tuy nhiên, lợi thế này có thể giảm khi triều tiếp tục dâng. Ông Tuấn cho biết đỉnh triều tại khu vực Nhà Bè có thời điểm lên 1,8 m và còn nguy cơ tăng. Nếu không có giải pháp thích ứng, nhiều nơi ở Phú Mỹ Hưng có thể ngập khi đỉnh triều vượt 2 m.
Trường hợp Phú Mỹ Hưng cho thấy vai trò của cốt nền và không gian trữ nước trong hạn chế ngập, đồng thời đặt ra yêu cầu cập nhật các điều kiện tự nhiên thay đổi theo thời gian.
Một góc khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Ảnh: Quỳnh Trần
Chống ngập cần tính đến mặt đất đang lún
Ở phạm vi nghiên cứu rộng hơn, ông Chơn và cộng sự ghi nhận tốc độ lún giữa các khu vực tại TP HCM chênh lệch lớn. Nhiều nơi lún trung bình khoảng 2-5 cm mỗi năm, một số điểm khoảng 7-8 cm.
Các địa bàn thuộc quận 7, quận 8, Bình Tân, Nhà Bè cũ, cùng những khu vực phát triển nhanh hoặc nằm dọc sông, kênh rạch, được xác định cần đặc biệt quan tâm.
Theo ông Chơn, thành phố không chỉ cần biết nơi nào đang lún mà còn phải làm rõ nguyên nhân, dự báo tốc độ lún và đánh giá tác động khi kết hợp với ngập lụt. Hai hiện tượng này cần được xem xét đồng thời để lựa chọn giải pháp thích ứng phù hợp.
Nếu mô hình ngập chỉ tính đến mưa, triều mà không cập nhật sự thay đổi cao độ mặt đất, kết quả dự báo có thể không còn sát thực tế. Ngược lại, bản đồ sụt lún cần được chuyển thành thông tin cụ thể về nguy cơ ngập, ảnh hưởng đến hạ tầng và dân cư để phục vụ quản lý.
Một giải pháp được đề xuất là tích hợp dữ liệu vệ tinh đo biến dạng mặt đất, hệ thống định vị chính xác, quan trắc nước ngầm, mô hình dòng chảy và dữ liệu đô thị trên cùng nền tảng. Chuỗi quan trắc liên tục sẽ giúp nhận diện nơi lún nhanh, dự báo xu hướng trong 5-10 năm hoặc dài hơn.
Đường Trần Xuân Soạn ngập nặng mỗi khi triều cường lên cao trùng trời mưa. Ảnh: Đình Văn
Các chuyên gia cho rằng thông tin này cần được đưa vào quy hoạch đô thị và đầu tư hạ tầng. Những nơi lún nhanh, thường xuyên ngập hoặc chịu tác động đồng thời của triều cường, mưa cực đoan và nước biển dâng cần được xác định là vùng rủi ro để lựa chọn phương án phát triển phù hợp.
Thành phố cũng cần duy trì hệ thống quan trắc và dự báo thường xuyên, thay vì chỉ thu thập dữ liệu trong từng đề tài nghiên cứu. Khi cao độ mặt đất được cập nhật liên tục, cơ quan quản lý có thể điều chỉnh bản đồ nguy cơ ngập và phương án ứng phó.
Một hướng khác là xây dựng bản sao số đô thị, kết hợp dữ liệu về sụt lún, ngập, hạ tầng, dân cư và quy hoạch. Mô hình này giúp mô phỏng các kịch bản phát triển, đánh giá tác động của từng phương án trước khi triển khai.
TP HCM đang lập Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm, với định hướng chuyển từ chống ngập bằng công trình đơn lẻ sang quản lý nước theo 14 lưu vực thủy lực, xác định riêng nguyên nhân và mức độ rủi ro ở từng khu vực.
Theo định hướng này, đê, cống và trạm bơm sẽ được kết hợp với hồ điều hòa, hành lang thoát lũ, công viên ngập nước, không gian trữ nước và rừng ngập mặn. Thành phố hướng tới mô hình "thành phố bọt biển", tăng khả năng giữ, thấm và thoát nước, đồng thời gắn chống ngập với kiểm soát sụt lún và thích ứng biến đổi khí hậu.
Vì sao đỉnh triều ở TP HCM liên tục tăng trong các năm gần đây?
Những yếu tố khiến TP HCM ngập mỗi khi triều cường. Video: Diễm Hạnh - Trung Kiên
Lê Tuyết