Thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 24/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; Kết luận số 88-KL/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị; theo đó chuyển chức năng, nhiệm vụ tham mưu chiến lược về công tác dân vận từ Ban Tuyên giáo Trung ương sang Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương.
Nhân dịp Ngày truyền thống dân vận của Đảng (15/10), đồng chí Nguyễn Quang Đức, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương đã trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) về vai trò, vị trí của công tác dân vận sau khi sắp xếp, cũng như việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
- Xin đồng chí cho biết sau khi Ban Chấp hành Trung ương chuyển chức năng, nhiệm vụ tham mưu chiến lược về công tác dân vận từ Ban Tuyên giáo Trung ương sang Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương, vai trò của công tác dân vận được xác định như thế nào trong mô hình tổ chức mới? Cần phát huy sức mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội ra sao để nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới?
Đồng chí Nguyễn Quang Đức: Nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng của Đảng, có thể thấy một bài học xuyên suốt: sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ nhân dân, mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn với việc dựa vào dân, tin dân, đoàn kết và phát huy sức mạnh của nhân dân. Ngay từ khi thành lập, Đảng đã đặc biệt coi trọng vận động quần chúng. Trong bài báo "Dân vận" năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân." Tư tưởng ấy vẫn nguyên giá trị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm "Dân là gốc", xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, động lực và nguồn lực của phát triển. Điều đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác dân vận: không chỉ vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, mà còn phải làm cho thực tiễn cuộc sống, tiếng nói và nguyện vọng chính đáng của nhân dân được phản ánh đầy đủ trong quá trình hoạch định và thực hiện chủ trương, chính sách.
Trên tinh thần đó, việc Trung ương chuyển chức năng, nhiệm vụ tham mưu chiến lược về công tác dân vận sang Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương không đơn thuần là điều chỉnh đầu mối tổ chức. Đây là bước đổi mới phương thức lãnh đạo, tạo sự gắn kết chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn giữa tham mưu chiến lược của công tác dân vận với hoạt động thực tiễn của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy lợi thế của hệ thống gần dân, sát dân để kịp thời nắm bắt tình hình, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tham mưu cho Đảng những chủ trương, giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Để đáp ứng yêu cầu đó, Đảng ủy phải nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy vai trò nòng cốt trong đoàn kết, tập hợp, vận động nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước. Mỗi tổ chức phải phát huy thế mạnh riêng, đồng thời phối hợp chặt chẽ, thống nhất hành động, hướng mạnh về cơ sở, tránh hành chính hóa, hình thức hóa hoạt động, bảo đảm hiệu quả, thiết thực.
Thước đo của mô hình mới, theo tôi, không chỉ là sắp xếp tổ chức bộ máy mà trước hết là mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân có gắn bó hơn không, tiếng nói của nhân dân có được lắng nghe đầy đủ, những kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng có được giải quyết tốt hơn không. Hiệu quả công tác dân vận phải được thể hiện bằng niềm tin của nhân dân và những chuyển biến thực chất trong đời sống nhân dân.
- Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, sự phát triển của mạng xã hội cũng đặt ra không ít thách thức, công tác Dân vận cần đổi mới như thế nào để phát huy vai trò vận động, đoàn kết tập hợp các tầng lớp nhân dân đồng thuận và tích cực hưởng ứng, thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật, các chương trình hành động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thưa đồng chí?
Đồng chí Nguyễn Quang Đức: Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng luôn vận dụng những phương thức phù hợp để vận động, đoàn kết, tập hợp công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, đồng bào các dân tộc, tôn giáo và các tầng lớp nhân dân, tạo thành sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày nay, đời sống xã hội chuyển biến nhanh chóng; bên cạnh địa bàn dân cư và các cộng đồng nghề nghiệp truyền thống, những hình thức kết nối, tập hợp mới đang phát triển mạnh trên môi trường số. Công tác dân vận phải theo kịp sự chuyển động ấy.
Chuyển đổi số mở ra khả năng nắm bắt tình hình, kết nối và đối thoại với nhân dân nhanh hơn, rộng hơn, nhưng cũng đặt ra thách thức khi thông tin lan truyền tức thời, đa chiều, những vấn đề xã hội có thể phát sinh và tác động rất nhanh. Vì vậy, đổi mới dân vận không phải chỉ là đưa nội dung tuyên truyền lên mạng, mà quan trọng hơn là đổi mới cách nghe dân, hiểu dân, đối thoại với dân và tham mưu giải quyết những vấn đề nhân dân quan tâm.
Cần kết hợp chặt chẽ dân vận trực tiếp với ứng dụng công nghệ số trong nắm tình hình, phân tích, dự báo, tiếp nhận phản ánh và theo dõi việc giải quyết kiến nghị. Đặc biệt quan tâm những vấn đề thiết thân như việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, dịch vụ công, môi trường và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Công nghệ giúp chúng ta lắng nghe nhanh hơn, nhưng không thể thay thế việc trực tiếp đến với nhân dân, thấu hiểu thực tiễn và giải quyết công việc của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội đổi mới cách tiếp cận, tập hợp đoàn viên, hội viên, người lao động trong những cách thức làm việc mới và các cộng đồng trên môi trường số. Thông tin, tuyên truyền thiết thực, dễ hiểu, có sức thuyết phục; tăng cường đối thoại, giải thích chính sách, tôn trọng những ý kiến khác nhau và xử lý những vấn đề chính đáng từ cơ sở. Sự đồng thuận bền vững không thể chỉ có được bằng tuyên truyền, mà phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ, hài hòa lợi ích và kết quả thực tế.
Cùng với kỹ năng số, cán bộ dân vận càng phải giữ được phẩm chất cốt lõi là chân thành, gần dân, trọng dân, nói đi đôi với làm. Quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về thực hiện “3 gần”: gần dân, gần cơ sở, gần không gian số, mỗi cán bộ làm công tác dân vận phải chủ động tiếp cận, lắng nghe, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân cả trực tiếp và trên môi trường số; gắn việc tiếp nhận thông tin với trách nhiệm tham mưu giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp công tác dân vận gần nhân dân hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn và góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội.
- Theo đồng chí, trong giai đoạn mới, làm thế nào để công tác dân vận phát huy thực chất quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị; qua đó cụ thể hóa cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "Dân là gốc", "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"?
Đồng chí Nguyễn Quang Đức: Trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền, dân vận không chỉ là tuyên truyền, tập hợp, vận động nhân dân, mà còn phải bảo đảm mọi chủ trương, chính sách và hoạt động của bộ máy thực sự xuất phát từ lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Tinh thần "Dân là gốc" được Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh đòi hỏi quyền làm chủ của nhân dân phải được tôn trọng và bảo đảm bằng những kết quả cụ thể. Một chính sách hợp lòng dân, một việc của dân được giải quyết thấu đáo cũng là cách dân vận có sức thuyết phục.
Muốn vậy, phải thực hiện thực chất cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ." Đảng lãnh đạo bằng những chủ trương đúng, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện và bảo đảm điều kiện để người dân thực hiện quyền làm chủ theo Hiến pháp, pháp luật; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội phát huy vai trò đại diện, giám sát, phản biện xã hội, làm cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. nhân dân được tham gia không chỉ ở khâu thực hiện mà cả trong góp ý, giám sát và đánh giá kết quả chính sách.
Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đi vào đời sống bằng những cơ chế rõ ràng, thiết thực. Vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân cần được công khai, lấy ý kiến từ sớm và tiếp thu nghiêm túc; kiến nghị chính đáng được trả lời, giải quyết theo thẩm quyền, những vấn đề chưa thể giải quyết được giải thích rõ. Coi trọng trách nhiệm giải trình và kết quả xử lý hơn số lượng cuộc họp, lượt tham gia.
Tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, ngày 08/10/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lắng nghe phải đi liền với trả lời, giải quyết; vấn đề chưa thể tiếp thu thì phải giải thích rõ.” Đồng chí cũng yêu cầu cấp ủy tự kiểm tra từ phản ánh của nhân dân, bảo vệ người góp ý ngay thẳng và kiểm tra việc thực hiện cam kết với nhân dân. Đây là yêu cầu rất cụ thể đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phát huy dân chủ: không chỉ để nhân dân nói lên tiếng nói của mình, mà còn phải có trách nhiệm tiếp thu, phản hồi và chịu sự giám sát về kết quả giải quyết.
Tôi cho rằng, thước đo quan trọng của công tác dân vận không phải là số cuộc vận động hay đối thoại, mà là quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm đến đâu, các nguyện vọng hợp pháp, chính đáng được giải quyết như thế nào, trí tuệ và sức sáng tạo của nhân dân được khơi dậy ra sao. Khi nhân dân thực sự được biết, được bàn, được tham gia, được giám sát và được thụ hưởng công bằng thành quả phát triển, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân sẽ càng bền chặt, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tiếp tục được phát huy mạnh mẽ.
- Trân trọng cảm ơn đồng chí!