Số người học văn bằng 2 ngành ngôn ngữ Anh tăng hơn 60% trong 2 năm
Mới đây ngày 4.11, Bộ GD-ĐT tổ chức cuộc họp về công tác quản lý đào tạo văn bằng thứ hai, đào tạo từ xa ngành ngôn ngữ Anh và chứng chỉ ngoại ngữ.
Tại cuộc họp, Vụ Giáo dục đại học (ĐH) thông tin số người học văn bằng thứ 2 ngành ngôn ngữ Anh theo hình thức chính quy và vừa làm vừa học tăng từ 10.613 người năm 2023 lên 17.113 người năm 2025, tăng 61,2%.
Năm 2026, các cơ sở đào tạo đăng ký 38.224 chỉ tiêu đào tạo từ xa ngành ngôn ngữ Anh, 5.810 chỉ tiêu văn bằng thứ 2 chính quy và 6.534 chỉ tiêu văn bằng thứ 2 vừa làm vừa học. Riêng nhóm văn bằng thứ hai vừa làm vừa học, số chỉ tiêu đăng ký tăng 68,6% so với năm 2025.

Để rà soát, chấn chỉnh hoạt động đào tạo văn bằng 2 trong đó có ngành ngôn ngữ Anh, Bộ GD-ĐT yêu cầu nâng chuẩn đầu ra cho cử nhân văn bằng ngành ngôn ngữ Anh
ẢNH: M.Q TẠO BỞI AI
Vụ Giáo dục ĐH cho rằng tốc độ tăng quy mô đặt ra yêu cầu đối chiếu số lượng người học với năng lực tổ chức đào tạo của từng cơ sở, từ đội ngũ giảng viên, học liệu số, hệ thống quản lý học tập đến điều kiện thực hành và đánh giá 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đối với văn bằng thứ 2, việc công nhận, chuyển đổi tín chỉ từ chương trình đã học phải có căn cứ đối với từng người học và bảo đảm yêu cầu về chuẩn đầu ra.
Từ đó, Vụ Giáo dục ĐH đề xuất xây dựng chuẩn chương trình đào tạo ngành ngôn ngữ Anh, áp dụng thống nhất chuẩn đầu ra giữa các hình thức, phương thức đào tạo và nghiên cứu yêu cầu năng lực ngoại ngữ đầu ra tối thiểu bậc 5, tương đương trình độ C1.
Trên cơ sở đề xuất của Vụ Giáo dục ĐH, Thứ trưởng Lê Quân yêu cầu vụ này sớm hoàn thiện, trình ban hành chuẩn chương trình đào tạo khối ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài, trong đó có ngành ngôn ngữ Anh. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo văn bằng thứ 2 ngành ngôn ngữ Anh phải tương đương với chuẩn đầu ra của chương trình chính quy.
Về chuẩn đầu ra bậc 5, tương đương trình độ C1, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Quân yêu cầu các cơ sở đào tạo có minh chứng đánh giá người học đạt trình độ này. Thứ trưởng nhấn mạnh, người học chỉ được cấp bằng cử nhân ngành ngôn ngữ Anh sau khi có chứng chỉ xác nhận đạt trình độ C1.
Trước đó, ngày 27.10, Bộ GD-ĐT có công văn gửi các cơ sở giáo dục ĐH về việc rà soát, chấn chỉnh hoạt động đào tạo văn bằng 2, trong đó đặc biệt lưu ý đối với đào tạo văn bằng 2 ngành ngôn ngữ Anh do "tại một số cơ sở giáo dục ĐH còn tồn tại một số bất cập làm ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của hệ thống giáo dục ĐH".
Có thể quá sức với người vừa đi học vừa đi làm?
Chia sẻ về vấn đề này, thạc sĩ Nguyễn Minh Trí, Giám đốc Chương trình ngôn ngữ Anh Trường ĐH Hoa Sen, cho biết: "Định hướng nâng chuẩn đầu ra của người học văn bằng 2 ngành ngôn ngữ Anh lên trình độ C1 là một chủ trương hợp lý và cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đối với sinh viên tốt nghiệp ngành ngôn ngữ Anh, việc có khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo không chỉ là một lợi thế cạnh tranh mà còn là yêu cầu cốt lõi của ngành đào tạo".
Tuy nhiên, theo thạc sĩ Trí, chuẩn này có thể quá sức với người vừa đi học vừa đi làm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có một lực lượng lao động có năng lực sử dụng tiếng Anh ở trình độ cao, đặc biệt là những người được đào tạo chuyên sâu về ngôn ngữ. Và một mục tiêu đúng đắn cần đi kèm với lộ trình triển khai phù hợp. Nếu yêu cầu này được áp dụng trong thời gian quá ngắn, cả người học lẫn các cơ sở đào tạo đều có thể gặp những khó khăn đáng kể.
"Trước hết, phần lớn người học văn bằng 2 là những người đã đi làm, có những giới hạn nhất định về thời gian và điều kiện học tập. Để đạt được trình độ C1, người học cần đầu tư đáng kể về thời gian, công sức và có môi trường thực hành ngôn ngữ thường xuyên. Đây không phải là mục tiêu có thể đạt được chỉ thông qua một vài khóa luyện thi ngắn hạn", thạc sĩ Minh Trí nhận định.
Ở góc độ cơ sở đào tạo, ông Trí cho rằng việc điều chỉnh chuẩn đầu ra cũng đòi hỏi rà soát và tái cấu trúc chương trình, từ nội dung giảng dạy, phương pháp tổ chức học tập đến hệ thống kiểm tra, đánh giá. Đây là một quá trình cần sự chuẩn bị nghiêm túc, không thể thực hiện trong thời gian ngắn.
Một vấn đề khác ông Trí đặc biệt lưu ý là không nên đồng nhất năng lực ngoại ngữ với chất lượng của toàn bộ chương trình đào tạo. Chuẩn C1 là một yêu cầu về năng lực ngôn ngữ, nhưng chất lượng của một chương trình ĐH phải được nhìn nhận toàn diện hơn. Bản chất của giáo dục ĐH không chỉ là trang bị kiến thức hay phát triển một kỹ năng riêng lẻ, mà còn phải chuẩn bị cho người học những năng lực cần thiết để tham gia thị trường lao động và thực hiện công việc chuyên môn sau khi tốt nghiệp.
"Đối với ngành ngôn ngữ Anh, năng lực tiếng Anh chắc chắn là nền tảng quan trọng, nhưng không phải là tất cả. Tùy theo định hướng đào tạo, người học còn cần phát triển những năng lực nghề nghiệp khác, chẳng hạn như năng lực giảng dạy, biên phiên dịch, giao tiếp trong môi trường kinh doanh, truyền thông doanh nghiệp, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và khả năng thích ứng với môi trường làm việc.
Một người đạt trình độ C1 chưa chắc đã có đủ năng lực để trở thành một giáo viên tiếng Anh giỏi, một biên phiên dịch viên chuyên nghiệp hay một nhân sự có khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường doanh nghiệp quốc tế. Những năng lực này đòi hỏi quá trình đào tạo, thực hành và đánh giá chuyên biệt", ông Trí đánh giá.
Thạc sĩ Châu Thế Hữu, giảng viên Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, cũng cho rằng thiết kế chương trình của ngành ngôn ngữ Anh không chỉ dừng ở việc phát triển kỹ năng của người học đến một chuẩn nhất định (như C1), mà còn ở việc trang bị cho họ những kiến thức cơ sở ngành ngôn ngữ học như: ngữ âm, âm vị học, từ vựng, ngữ nghĩa học, và cả những kiến thức về văn hóa – đất nước học, văn học…
"Bên cạnh đó, người học còn được yêu cầu phải lĩnh hội và phát huy được các kỹ năng có liên quan như: thuyết trình, tư duy phản biện, biên phiên dịch (và/hoặc giảng dạy)… Tất cả những yêu cầu này của chương trình đào tạo vốn là cơ bản với sinh viên bậc đại học, thuộc văn bằng thứ nhất, nhưng sẽ quá tải với người học văn bằng thứ 2, vì phần lớn thời gian họ còn dành cho công việc, gia đình… chưa kể đến những giới hạn nhất định về tuổi tác và sức khỏe", thạc sĩ Hữu nhìn nhận.