Bộ Công Thương vừa có báo cáo về các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030 và điều chỉnh Quy hoạch điện VIII.
Đáng chú ý, Bộ Công Thương đã đề xuất Chính phủ đồng ý chủ trương chuyển Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về Bộ Công Thương là cơ quan chủ sở hữu để có đủ lực lượng, nguồn lực triển khai thực hiện quy hoạch sau khi được phê duyệt.
Hiện Bộ Tài chính đang thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại EVN.
Bên cạnh đề xuất này, Bộ Công Thương kiến nghị Chính phủ ban hành Nghị quyết về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu bảo đảm cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số giai đoạn 2027-2030.
Bộ cũng kiến nghị Chính phủ cho phép thực hiện điều chỉnh Quy hoạch điện VIII theo 2 bước.
Cụ thể, bước 1 sẽ cập nhật quy hoạch theo Nghị quyết số 253/2025/QH15. Theo đề xuất, có thể bổ sung các dự án nhiệt điện than mới để bù đắp các dự án nguồn điện nền khác như LNG, than bị chậm tiến độ; đồng thời bổ sung các nguồn năng lượng tái tạo có khả năng triển khai nhanh để bù đắp các dự án khác chưa triển khai.
Các giải pháp này nhằm đáp ứng nhu cầu điện cho khu vực phía Bắc giai đoạn 2027-2028 và khu vực phía Nam giai đoạn 2029-2030.
Bước 2, điều chỉnh tổng thể Quy hoạch điện VIII theo quy định của Luật Quy hoạch. Trong đó, các dự án đã được điều chỉnh cập nhật quy hoạch bước 1 là phần gắn kết chặt chẽ, không tách rời trong điều chỉnh tổng thể.
Mới đây, tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, ông Đặng Hoàng An - Chủ tịch HĐTV EVN, cho biết, trong 8 tháng năm 2026, tập đoàn tập trung vận hành hệ thống điện, bảo đảm cung ứng điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh và cân đối tài chính tiếp tục có chuyển biến tích cực.
Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 235,82 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng điện thương phẩm đạt 210,4 tỷ kWh, tăng 9,8%.
Trong 8 tháng đầu năm, giá trị khối lượng đầu tư toàn tập đoàn ước đạt 76.820 tỷ đồng, bằng 62,2% kế hoạch; giải ngân đạt 69.535 tỷ đồng, bằng 56,3% kế hoạch.
EVN đã khởi công 118 công trình lưới điện từ 110-500 kV và đóng điện 116 công trình. Một số dự án nguồn điện quan trọng tiếp tục được triển khai.
Về tài chính, ông Đặng Hoàng An cho biết sau giai đoạn khó khăn trong các năm 2022-2023, EVN đã triển khai nhiều giải pháp tiết giảm chi phí, điều hành linh hoạt và cơ cấu lại hoạt động. Đến ngày 30/6/2026, EVN cho biết đã xử lý hết số lỗ lũy kế tích tụ từ các năm trước.
Trong 8 tháng đầu năm, doanh thu toàn EVN đạt 482.042 tỷ đồng, lợi nhuận ước đạt 12.215 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước khoảng 17.160 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn tài chính cơ bản được bảo đảm, song nhu cầu vốn lớn cho đầu tư phát triển hệ thống điện trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu tăng khả năng huy động nguồn vốn dài hạn.
Từ nay đến cuối năm, EVN phấn đấu bảo đảm cung ứng điện trong mọi tình huống, với dự báo nhu cầu điện 4 tháng cuối năm tăng khoảng 10,5-12%.
EVN cũng phấn đấu năm 2026 đạt lợi nhuận trên 13.500 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước trên 26.300 tỷ đồng; tiếp tục tiết giảm chi phí, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Theo EVN, thách thức lớn trong bảo đảm cung ứng điện giai đoạn tới là nhu cầu điện tăng nhanh trong khi tiến độ phát triển nguồn chưa đồng đều giữa các chủ đầu tư. Một số dự án do khu vực tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện còn chậm, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến tiến độ bổ sung nguồn điện theo quy hoạch.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030 hệ thống điện cần bổ sung khoảng 93.000 MW công suất nguồn điện, trong đó EVN được giao đầu tư và hoàn thành khoảng 6.066 MW nguồn điện cùng khoảng 1.700 MW hệ thống lưu trữ năng lượng. Phần công suất còn lại do các chủ đầu tư khác thực hiện, đòi hỏi các giải pháp quyết liệt để bảo đảm tiến độ.
Trong bối cảnh nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng khoảng 10-12%/năm, yêu cầu bảo đảm dự phòng và vận hành an toàn hệ thống điện ngày càng cao. Trong khi đó, các dự án điện khí, điện gió ngoài khơi có nhu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn dài, đòi hỏi cơ chế phù hợp để tạo điều kiện thu xếp vốn và thúc đẩy đầu tư.